Tiệm Sửa Xe
Không phải đuổi ra khỏi nhà.
Mà là đuổi xuống tiệm làm việc.
“Xuống ngồi tính tiền.”
Ông đứng ở cửa, tay cầm chiếc cờ-lê dài gần bằng cẳng tay.
Tôi đang nằm trên giường, chân gác lên hai cái gối, điện thoại đặt trước mặt, màn hình mở bản ghi thời gian ở Phúc Lâm.
“Chú bảo con nghỉ.”
“Chú bảo nghỉ cho chân bớt sưng.”
“Chân con vẫn sưng.”
“Nhưng miệng hết sưng rồi.”
“Miệng con có sưng bao giờ?”
“Không sưng mà nói từ sáng đến giờ chưa dừng.”
Tôi ngồi dậy.
“Con đang sắp xếp lời khai.”
“Xuống tiệm sắp.”
“Dưới đó bụi.”
“Trước khi đi theo người ta vào ổ đa cấp, con sống bằng bụi.”
Tôi nhìn chiếc cờ-lê trong tay ông.
“Chú cầm cái đó để thuyết phục à?”
“Chú đang sửa xe.”
“Xe ở tầng dưới.”
“Ừ.”
“Vậy sao mang lên đây?”
Chú Sáu nhìn xuống cờ-lê như lúc này mới nhận ra.
Ông ho một tiếng.
“Tiện tay.”
Tôi không vạch trần.
Chú Sáu không quen nói những câu như xuống dưới để chú nhìn thấy con còn nguyên vẹn.
Ông thường thay bằng những câu như ngồi tính tiền, đừng ăn không.
Tôi thay quần áo, quấn lại băng đầu gối rồi đi xuống.
Tiệm sửa xe đã thay đổi.
Nếu không để ý kỹ, vẫn là căn tiệm cũ với tường ám khói, giá dụng cụ, chiếc bàn gỗ và quạt công nghiệp kêu như sắp rụng cánh.
Nhưng ổ khóa cửa cuốn đã được thay mới.
Cửa sau có thêm hai thanh chốt thép.
Trên cửa sổ gắn một lớp lưới kim loại.
Camera ngoài hiên đổi góc, từ chỉ nhìn thẳng ra đường thành bao quát cả hai bên vỉa hè.
Bên dưới bàn làm việc có một cây gậy sắt.
Tôi cúi xuống nhìn.
“Chú định mở thêm dịch vụ đánh khách à?”
Chú Sáu đang cúi kiểm tra bánh xe, không ngẩng lên.
“Phòng chuột.”
“Chuột đi xe máy?”
“Chuột nào cũng là chuột.”
Tôi nhìn sang góc cửa.
Một chiếc còi báo động cầm tay mới tinh được đặt cạnh hộp tiền.
“Cái này cũng phòng chuột?”
“Chuột đi theo đàn.”
Tôi kéo ghế ngồi.
“Chú đã nhờ ai trông tiệm?”
Tay chú Sáu dừng lại rất ngắn.
“Không ai.”
“Bác Tấn bán phụ tùng sáng nay đi ngang ba lần.”
“Người ta tập thể dục.”
“Bác ấy đi cà nhắc.”
“Vậy càng cần tập.”
“Anh Vinh giao nước đỗ xe đầu ngõ từ sáu giờ đến tám giờ.”
“Xe hỏng.”
“Chú sửa chưa?”
“Chưa có thời gian.”
“Còn chú Thành tổ dân phố đứng uống cà phê đối diện hai tiếng?”
“Người ta thích cà phê.”
Tôi nhìn ông.
Chú Sáu tháo chiếc bánh xe ra, giọng khó chịu:
“Biết rồi còn hỏi.”
Tôi cúi đầu nhìn cuốn sổ tính tiền.
Một cảm giác vừa ấm vừa nặng tràn lên trong ngực.
Ông không nói sợ.
Nhưng đã thay khóa, chỉnh camera, gọi từng người quen đến ngồi quanh tiệm.
Những người đó cũng không hỏi tôi đã xảy ra chuyện gì.
Chỉ tình cờ xuất hiện nhiều hơn.
Tôi nói:
“Con xin lỗi.”
Chú Sáu dừng tay.
“Xin lỗi gì?”
“Vì kéo chú vào chuyện này.”
Ông đặt cờ-lê xuống.
“Con kéo chú đi đâu?”
“Người của Khải Minh đã theo dõi tiệm.”
“Tiệm vẫn đây.”
“Họ còn có thể quay lại.”
“Vậy thì quay lại.”
“Chú không sợ à?”
Chú Sáu lau tay vào giẻ.
“Có.”
Tôi ngẩng lên.
Ông nói rất thẳng.
“Sợ chứ. Chú có phải sắt đâu.”
Tôi không ngờ ông thừa nhận.
Chú Sáu tiếp tục:
“Nhưng sợ không có nghĩa đẩy con ra ngoài để tiệm được yên.”
“Con có thể sang chỗ khác ở tạm.”
“Chỗ nào?”
“Nhà nghỉ.”
“Để ai trông?”
“Con tự trông.”
“Con tự trông tốt đến mức bị lừa vào nhà trọ ba tầng.”
“Chú đừng nhắc mãi.”
“Chú sẽ nhắc đến khi con bớt liều.”
Tôi cúi xuống.
“Con chỉ muốn cứu Kiều Kiều.”
“Chú biết.”
“Chú không trách à?”
“Trách con đi một mình. Trách con không báo địa chỉ. Trách con nghĩ biết đánh nhau thì đầu cũng không cần dùng.”
“Con có dùng đầu.”
“Dùng để đập cửa?”
“Chú…”
Ông giơ tay chặn.
“Nhưng chuyện con đi vì bạn, chú không trách.”
Tôi im lặng.
Chú Sáu cúi xuống lắp bánh xe trở lại.
“Người ta sống cả đời, có được một người nghe mình gặp nạn rồi chạy tới không dễ.”
“Cô ấy đã lừa con.”
“Ừ.”
“Còn quay lại với Lâm Kha.”
“Ừ.”
“Có thể bây giờ cô ấy đang đứng về phía họ.”
“Có thể.”
“Vậy con có ngu không?”
Chú Sáu siết con ốc cuối cùng, sau đó nói:
“Có.”
Tôi nhìn ông.
Ông nói tiếp:
“Nhưng ngu vì tin bạn khác ngu vì ham tiền. Cái đầu phải sửa, không cần vứt.”
Tôi bật cười.
“Chú an ủi người khác thật khó nghe.”
“Chú không an ủi.”
“Vậy chú đang làm gì?”
“Bảo con lần sau cứu ai thì gọi công an trước.”
“Con đã gọi.”
“Sau khi bị nhốt.”
Tôi không cãi được.
Chú Sáu đẩy chiếc xe ra ngoài, giao lại cho khách.
Tôi ngồi ở bàn, ghi tiền công, kiểm tra số điện thoại khách và quan sát đường trước tiệm qua màn hình camera.
Đường Sâm đã dặn không được thay đổi sinh hoạt quá đột ngột.
Nếu đóng tiệm dài ngày, người theo dõi có thể hiểu chúng tôi đã cảnh giác và đổi cách tiếp cận.
Nhưng ông cũng nói không được ở một mình.
Vì vậy chú Sáu đưa tôi xuống tiệm, còn những người quen lần lượt “vô tình” xuất hiện.
Khoảng mười giờ, bác Tấn bán phụ tùng mang sang hai ly cà phê.
Ông đặt một ly trước mặt tôi.
“Uống đi.”
“Bác không hỏi chuyện cháu à?”
“Chú Sáu bảo không hỏi.”
Tôi nhìn chú Sáu.
Ông đang chỉnh xích xe, giả vờ không nghe.
Bác Tấn ngồi xuống ghế ngoài hiên.
“Nhưng có thằng nào lảng vảng thì chỉ cho bác.”
“Bác làm gì?”
“Gọi công an.”
Tôi hơi bất ngờ.
Bác nhún vai.
“Cháu tưởng bác cầm dao chạy ra à? Bác còn hai đứa cháu nội.”
Tôi bật cười.
Ít nhất người lớn quanh chú Sáu không phải kiểu thấy nguy hiểm là lập tức muốn lao vào đánh nhau.
Họ biết đứng gần.
Biết nhìn.
Biết gọi người có thẩm quyền.
Sự bình thường ấy khiến tôi thấy nhẹ lòng.
Cũng thấy tội lỗi hơn.
Khoảng gần trưa, một chiếc xe tay ga màu xanh đậm chạy vào tiệm.
Người đàn ông điều khiển khoảng ba mươi lăm tuổi, mặc áo sơ mi kẻ và quần tây. Mũ bảo hiểm che nửa gương mặt. Khi tháo khẩu trang, hắn có một nốt ruồi nhỏ sát mép phải.
Hắn dựng xe ngay giữa cửa.
“Xe bị hụt ga.”
Chú Sáu đi tới.
“Bị bao lâu?”
“Hai ngày.”
“Đã sửa đâu chưa?”
“Chưa.”
Giọng người đàn ông bình thường.
Trang phục bình thường.
Xe cũng không có gì đặc biệt.
Nhưng hắn nhìn tôi lâu hơn cần thiết.
Tôi cúi đầu ghi biển số vào phiếu.
59-K2 481.36.
“Em gái chú à?” hắn hỏi.
Chú Sáu không ngẩng lên.
“Cháu.”
“Làm ở đây lâu chưa?”
Tôi đặt bút xuống.
Chú Sáu đáp:
“Từ nhỏ.”
Người đàn ông cười.
“Con gái mà biết sửa xe giỏi nhỉ.”
“Tôi chỉ tính tiền.” Tôi nói.
“Ngày nào cũng ở tiệm à?”
Câu hỏi nghe như xã giao.
Nhưng người bình thường mang xe đi sửa thường hỏi giá, thời gian lấy xe hoặc nguyên nhân hỏng.
Không hỏi nhân viên nữ làm ca nào.
Tôi mỉm cười.
“Không cố định.”
“Buổi tối có làm không?”
“Có hôm.”
“Tiệm chỉ có hai chú cháu?”
Chú Sáu đứng thẳng lên.
“Anh sửa xe hay điều tra hộ khẩu?”
Người đàn ông bật cười.
“Chú nóng thế. Tôi hỏi chuyện thôi.”
“Xe để lại. Hai giờ lấy.”
“Tôi ngồi chờ được không?”
“Lâu.”
“Không sao.”
Hắn kéo ghế ngoài hiên ngồi.
Bác Tấn đã rời đi mười phút trước.
Chú Sáu quay vào trong, ánh mắt lướt qua tôi.
Tôi biết ông cũng thấy bất thường.
Nhưng cả hai đều không biểu hiện.
Người đàn ông ngồi xem điện thoại.
Thỉnh thoảng hắn ngẩng lên nhìn bên trong tiệm.
Không rõ nhìn tôi, nhìn camera hay bố trí cửa ra vào.
Tôi đứng dậy, cầm chai nước đi ngang xe.
Cốp xe không đóng kín.
Một góc giấy màu vàng nhạt kẹt ở mép.
Tôi không dừng lại.
Chỉ đi qua rồi quay vào.
Mười phút sau, chú Sáu cần kiểm tra bình ắc quy dưới yên. Ông gọi:
“Hạ Tầm, lấy chìa khóa.”
Người đàn ông đưa chìa.
Tôi nhận, mở yên xe ngay trước mặt hắn.
Không có lý do gì để hắn nghi.
Trong cốp có áo mưa, găng tay, một túi dụng cụ và vài tờ giấy gấp.
Tờ trên cùng in hình những bàn tay nắm vào nhau dưới ánh sáng vàng.
Dòng chữ lớn:
KHẢI MINH LIÊN DOANH – MỞ LỐI THỊNH VƯỢNG
Phía dưới là khẩu hiệu:
Một người thành công – cả gia đình đổi đời.
Tôi đã thấy khẩu hiệu này trong phòng học Phúc Lâm.
Chỉ khác mẫu thiết kế.
Tay tôi không dừng.
Tôi nhấc tờ giấy lên như để lấy dụng cụ bên dưới.
Bên trong còn một thẻ nhỏ ghi địa chỉ buổi giới thiệu sản phẩm tại khu Nam Bến.
Không phải Tây Cảng.
Một địa bàn khác.
Tôi ghi nhớ.
Người đàn ông hỏi:
“Có vấn đề gì không?”
Tôi quay lại.
“Ắc quy yếu.”
“Thay luôn được không?”
“Được.”
Tôi đóng cốp.
Không lấy tờ quảng cáo.
Nếu biến mất, hắn sẽ biết tôi đã nhận ra.
Chú Sáu nhìn tôi.
Tôi chỉ khẽ gõ hai lần lên mặt bàn.
Tín hiệu mới hai chú cháu vừa thống nhất sáng nay:
Có vấn đề.
Đừng đối đầu.
Chú Sáu quay lại chiếc xe như không có gì.
Tôi vào trong, chụp lại biển số đã ghi trên phiếu, gửi cho Đường Sâm cùng tin nhắn:
Khách lạ hỏi giờ làm, thành viên gia đình. Trong cốp có quảng cáo Khải Minh và địa chỉ Nam Bến. Đang ở tiệm.
Đường Sâm trả lời sau chưa đầy một phút:
Không giữ người. Không để lộ. Ghi hình, giữ phiếu và vật người đó chạm nếu có thể.
Tôi nhìn chai nước hắn đang uống.
Hắn tự mang theo.
Không để lại cốc.
Trên bàn chỉ có tờ báo cũ hắn vừa cầm lên.
Tôi dùng điện thoại chụp kín gương mặt qua phản chiếu tấm kính tủ.
Người đàn ông ngồi gần một giờ.
Trong thời gian đó, hắn hỏi thêm:
“Chú có con cái không?”
Chú Sáu đáp:
“Có xe thì sửa, không có thì ngồi yên.”
“Cháu gái chú sống cùng luôn à?”
“Tôi tính thêm tiền hỏi chuyện.”
Hắn cười.
“Chú vui tính.”
“Tôi không đùa.”
Sau khi thay ắc quy và chỉnh ga, chú Sáu báo giá.
Người đàn ông trả tiền mặt.
Tôi cố tình nói:
“Anh cho xin tên để ghi bảo hành.”
Hắn ngập ngừng nửa giây.
“Minh.”
“Họ?”
“Nguyễn.”
“Tên đầy đủ?”
“Nguyễn Văn Minh.”
Một cái tên quá phổ biến.
Tôi ghi đúng lời hắn nói.
“Cho xin số điện thoại.”
Hắn đọc một số.
Tôi bấm gọi thử.
Điện thoại trong túi hắn rung.
Ít nhất số là thật ở thời điểm này.
Hắn nhìn tôi.
“Cẩn thận thế?”
“Bảo hành phải liên lạc được.”
“Tiệm gia đình mà chuyên nghiệp nhỉ.”
Tôi cười.
“Chú tôi sống nhờ cẩn thận.”
Người đàn ông đội mũ, dắt xe ra.
Trước khi đi, hắn quay lại nhìn tôi.
“Em mới về Nam Hoài à?”
Tôi giữ nguyên nụ cười.
“Anh nghe ai nói?”
“Đoán thôi. Nhìn em không giống người làm ở đây lâu.”
“Anh đoán sai.”
Hắn nhìn tôi thêm một giây rồi chạy đi.
Tôi đợi xe khuất cuối đường mới đóng cửa cuốn xuống một nửa.
Chú Sáu lập tức hỏi:
“Trong cốp có gì?”
“Tờ quảng cáo Khải Minh.”
Sắc mặt ông thay đổi.
“Chú gọi công an.”
“Con đã báo Đường Sâm.”
“Giữ nó lại được không?”
“Không có căn cứ.”
“Thì tháo bánh xe.”
“Chú vừa nói cứu ai phải gọi công an trước.”
“Chú sửa xe, tháo bánh là nghiệp vụ.”
Tôi bật cười.
“Chú mà làm vậy, hắn biết chúng ta nhận ra.”
Chú Sáu đặt cờ-lê xuống rất mạnh.
“Bọn nó đến tận đây hỏi giờ giấc.”
“Con biết.”
“Chúng muốn gì?”
“Có thể xác nhận con có ở tiệm.”
“Đã có người chụp ảnh hôm trước.”
“Có thể muốn biết lịch sinh hoạt, trong nhà có ai, camera ở đâu.”
Ông nhìn cửa.
“Đóng tiệm.”
“Đường Sâm bảo chưa cần.”
“Đường Sâm có ngủ ở đây không?”
“Không.”
“Vậy ông ấy nói dễ.”
Tôi hiểu sự tức giận của chú Sáu.
Cảnh sát có nghiệp vụ.
Có người.
Có vũ khí.
Còn chú chỉ có một căn tiệm, vài người quen và tôi.
“Con sẽ không ở một mình.” Tôi nói.
“Con sang nhà bác Tấn ngủ.”
“Còn chú?”
“Chú ở đây.”
“Vậy khác gì?”
“Chú già rồi.”
“Người già bị ném đá ít đau hơn à?”
Chú Sáu nhìn tôi.
Tôi tiếp tục:
“Chúng muốn con thấy sợ mà tách khỏi mọi người. Con đi đâu một mình càng dễ bị theo.”
“Vậy phải làm sao?”
“Thu thập chứng cứ. Giữ camera. Ghi biển số. Không đối đầu.”
“Nghe như Trình Dã dạy.”
Tôi khựng lại.
“Chú biết tên anh ấy?”
“Chú nghe con nói với công an.”
“Con có nói à?”
“Con nói trong lúc ngủ.”
Tôi im lặng.
Chú Sáu nhìn tôi đầy nghi ngờ.
“Con mơ thấy nó à?”
“Con mơ thấy đánh nhau.”
“Gọi tên đàn ông giữa lúc đánh nhau?”
“Con gọi để nhờ anh ta giữ người.”
“Ừ.”
Giọng chú Sáu kéo dài.
Tôi không giải thích nữa.
Buổi chiều, Đường Sâm cử một cán bộ mặc thường phục tới lấy bản sao phiếu sửa xe và trích xuất camera.
Số điện thoại người đàn ông dùng là SIM mới đăng ký chưa đầy một tháng.
Tên đăng ký không phải Nguyễn Văn Minh.
Biển số xe tra nhanh thuộc về một phụ nữ ở quận khác, nhưng chưa rõ xe đã bán hay biển bị sử dụng trái phép.
Địa chỉ trên tờ quảng cáo Khải Minh tại Nam Bến được ghi nhận để xác minh.
Đường Sâm gọi dặn:
“Người này có thể chỉ là người dò tin.”
“Các anh nhận dạng được không?”
“Ảnh chưa đủ rõ.”
“Hắn để lại dấu vân tay trên tờ báo.”
“Cán bộ đã thu.”
“Có dùng được không?”
“Nếu có dữ liệu đối chiếu.”
“Tức là chưa chắc.”
“Đúng.”
Tôi đang dần quen với câu trả lời ấy.
Không chắc.
Chưa đủ.
Đang xác minh.
Trước đây tôi nghe là tức.
Bây giờ vẫn tức, nhưng biết phải giữ mọi thứ nhỏ nhất lại.
Tờ phiếu.
Camera.
Số điện thoại.
Thời gian.
Câu hỏi.
Mỗi thứ một chút.
Đường dây Khải Minh dựng bằng nhiều lớp.
Muốn phá, chúng tôi cũng phải bóc từng lớp.
Tôi dành phần còn lại của buổi chiều sao lưu camera sang hai ổ cứng.
Một ổ gửi cảnh sát.
Một ổ chú Sáu cất tại nhà bác Tấn.
Tôi đổi mật khẩu hệ thống camera, bật sao lưu đám mây và viết nhật ký khách lạ.
Chú Sáu nhìn tôi thao tác.
“Con biến tiệm sửa xe thành đồn công an à?”
“Không. Đồn có cà phê ngon hơn.”
“Cà phê đồn con uống rồi?”
“Không.”
“Vậy sao biết?”
“Đường Sâm uống ba cốc mà vẫn nhăn mặt. Chắc không ngon.”
Chú Sáu hừ một tiếng.
Đến tối, chúng tôi đóng tiệm sớm.
Bác Tấn và anh Vinh ở lại ăn cơm. Không ai nói thẳng là đang trông chừng.
Họ ngồi ngoài hiên, nói chuyện giá phụ tùng, xăng tăng và đội bóng thua trận.
Những câu chuyện rất bình thường.
Tôi ngồi bên trong, nhìn điện thoại.
Tài khoản tự nhận Kiều Kiều không gửi thêm tin nhắn.
Trình Dã vẫn không liên lạc.
Tôi không biết chiếc vòng đã tìm thấy chưa.
Cũng không biết người khách lạ hôm nay thuộc tuyến nào.
Khoảng chín giờ, bác Tấn và anh Vinh rời đi.
Chú Sáu kéo cửa cuốn xuống, khóa hai lớp.
Tôi kiểm tra camera lần cuối rồi lên gác.
Mười một giờ mười bảy phút.
Một tiếng động lớn vang lên phía dưới.
Choang!
Tôi bật dậy.
Chú Sáu từ phòng bên lao ra cùng lúc, tay cầm cây gậy sắt.
“Ở trên!”
“Chú đừng xuống một mình.”
“Gọi công an.”
Ông đi trước.
Tôi cầm điện thoại, mở trực tiếp camera.
Màn hình cho thấy kính cửa sổ bên hông tiệm đã vỡ.
Một viên đá nằm giữa nền.
Không còn người ngoài cửa.
Chỉ có bóng xe máy vừa lướt khỏi khung hình.
Tôi gọi Đường Sâm, đồng thời xuống theo chú Sáu.
“Con đã bảo ở trên!”
“Con đang gọi.”
Sàn tiệm đầy mảnh kính.
Gió đêm thổi qua ô cửa vỡ.
Viên đá được quấn bằng một tờ giấy, buộc dây thun.
Chú Sáu định nhặt.
Tôi giữ tay ông.
“Đừng chạm.”
Ông dừng lại.
Tôi bật đèn sáng hơn, dùng camera điện thoại quay toàn cảnh:
Cửa kính vỡ.
Vị trí viên đá.
Mảnh kính.
Thời gian trên đồng hồ.
Cửa cuốn vẫn khóa.
Không có dấu hiệu người vào trong.
Đường Sâm yêu cầu chúng tôi không động vào vật chứng, chờ cán bộ đến.
Tôi phóng to camera ngoài đường.
Người ném đá đi xe máy.
Không phải chiếc xe màu đen có vết xước trắng trước đó.
Lần này là xe số màu đỏ sẫm.
Người điều khiển mặc áo mưa rộng, đội mũ trùm kín.
Hắn chạy chậm qua tiệm.
Tay trái ném viên đá vào cửa kính.
Sau đó tăng ga rời đi.
Toàn bộ chỉ vài giây.
Khi cán bộ tới, họ chụp ảnh, thu viên đá và mảnh giấy bằng găng tay.
Tờ giấy chỉ có một dòng chữ in bằng máy:
DỪNG TÌM ÔN KIỀU KIỀU. LẦN SAU KHÔNG CHỈ LÀ KÍNH.
Tôi đọc xong, tay lạnh đi.
Chú Sáu đứng bên cạnh.
Ông không mắng.
Không nói gì.
Chính sự im lặng của ông khiến cảm giác tội lỗi trong tôi nặng hơn.
“Nếu con không về đây…”
“Im.”
Chú Sáu cắt lời.
“Nhưng…”
“Tiệm là nhà con.”
Ông nhìn ô kính vỡ.
“Bọn nó ném vào nhà mình, lỗi là của bọn nó.”
“Chú có thể bị thương.”
“Vậy càng phải bắt.”
“Chú không muốn con dừng à?”
Ông quay sang.
“Con dừng thì chúng có trả bạn con về không?”
Tôi im lặng.
“Có để yên cho con không?”
“Không chắc.”
“Vậy dừng để làm gì?”
Tôi nhìn mảnh giấy trong túi vật chứng.
“Con sẽ không lao đi tìm chúng nữa.”
“Ừ.”
“Không gặp riêng người lạ.”
“Ừ.”
“Không giấu thông tin với cảnh sát.”
Chú Sáu nhướng mày.
“Cái đó khó với con à?”
“Chú đừng phá không khí.”
Ông hừ một tiếng.
Nhưng tôi đã quyết định thật.
Trước đây, tôi luôn nghĩ hành động nhanh là cách duy nhất.
Thấy cửa thì chạy.
Thấy người thì kéo.
Thấy nguy hiểm thì đánh.
Nhưng Khải Minh không phải một người đứng trước mặt để tôi dùng ghế nhựa đập.
Nó là mạng lưới.
Muốn đánh nó, cần chứng cứ, thời gian và những người biết mình đang làm gì.
Nếu tôi tiếp tục bốc đồng, người chịu hậu quả không chỉ là tôi.
Còn chú Sáu.
Những người đang giúp chúng tôi.
Và cả những nạn nhân chưa được tìm thấy.
Một giờ sáng, việc lấy dấu và lập biên bản hoàn tất.
Đường Sâm tới sau cùng.
Ông mặc áo khoác mỏng, tóc còn ướt vì vừa đi ngoài mưa.
“Camera đâu?”
Tôi mở bản ghi.
Ông xem hai lần.
“Có góc khác không?”
“Camera nhà đối diện.”
“Người ta đang ngủ.”
“Chú Thành có chìa.”
Chú Sáu lập tức gọi.
Mười phút sau, chúng tôi có thêm một đoạn ghi hình từ camera nhà đối diện.
Góc này rõ hơn.
Người ném đá dừng ở đầu đường khoảng hai phút trước khi chạy qua tiệm.
Hắn kéo mũ áo mưa xuống để hút thuốc.
Chỉ lộ nghiêng nửa gương mặt.
Nhưng đủ thấy:
Mũi khoằm.
Một vết sẹo nhỏ chạy từ tai xuống quai hàm.
Tai trái đeo khuyên tròn màu đen.
Đường Sâm nhìn màn hình.
“Gửi bản gốc.”
Tôi hỏi:
“Anh nhận ra không?”
“Không chắc.”
“Lại không chắc.”
“Chưa đủ rõ.”
Phía ngoài vang lên tiếng xe dừng.
Tôi quay lại.
Trình Dã bước vào qua cửa phụ.
Anh mặc áo khoác đen, phần bên hông vẫn hơi cứng khi đi. Râu đã cạo bớt, tóc gọn hơn, nhưng vẻ mệt mỏi chưa biến mất.
Tôi nhìn anh.
Ba ngày không tin tức.
Anh xuất hiện lúc một giờ sáng, đúng khi kính tiệm bị ném vỡ.
Câu đầu tiên tôi nói là:
“Anh còn sống à?”
Trình Dã nhìn tôi.
“Cô thất vọng?”
“Có. Tôi đã chuẩn bị tiền viếng.”
“Giữ lại dùng sửa kính.”
Chú Sáu đứng phía sau nhìn anh từ đầu xuống chân.
“Cậu là Trình Dã?”
Anh gật đầu.
“Vâng.”
“Người từng kéo nó khỏi hẻm?”
“Vâng.”
“Người bị dao cứa?”
“Vâng.”
“Người giấu tên?”
Trình Dã dừng một nhịp.
“Vâng.”
Chú Sáu gật đầu.
“Không đáng tin.”
“Cháu cũng nói vậy.” Tôi chen vào.
Trình Dã nhìn tôi.
“Tôi nghe.”
Đường Sâm gọi:
“Lại đây xem.”
Trình Dã bước tới màn hình.
Tôi tua đoạn camera nhà đối diện.
Người đàn ông mặc áo mưa kéo mũ xuống, nghiêng mặt châm thuốc.
Trình Dã đang đứng thẳng bỗng cúi gần màn hình hơn.
Ánh mắt thay đổi.
“Dừng.”
Tôi dừng hình.
“Phóng phần mặt.”
Tôi phóng lớn.
Hình ảnh vỡ hạt, nhưng vết sẹo và chiếc khuyên tai vẫn nhìn được.
Trình Dã nhìn rất lâu.
Đường Sâm hỏi:
“Cậu biết hắn?”
Trình Dã không trả lời ngay.
Anh lấy điện thoại, mở một thư mục ảnh được khóa mật khẩu.
Sau vài thao tác, anh đưa ra một bản chụp hồ sơ cũ.
Trong ảnh là người đàn ông trẻ hơn, tóc húi ngắn, chưa có vết sẹo dài rõ như hiện tại nhưng tai trái đeo chiếc khuyên tròn đen.
Tên trong hồ sơ:
PHẠM QUỐC HƯNG
Biệt danh:
HƯNG CÒ
Nghề nghiệp khai báo:
Môi giới việc làm tự do.
Trình Dã nói:
“Anh ta từng đưa người từ các tỉnh vào Nam Hoài bằng quảng cáo tuyển dụng.”
Đường Sâm nhìn hồ sơ.
“Có liên quan vụ Trình Vi?”
“Có tên trong danh sách người môi giới.”
Tôi nhìn người trên màn hình.
“Chính hắn đưa Trình Vi đi?”
“Không xác định.”
“Nhưng xuất hiện trong hồ sơ?”
“Ba lần.”
Trình Dã chỉ vào một dòng ghi chú.
“Lần cuối, số điện thoại của hắn liên lạc với bạn trai Trình Vi hai ngày trước khi cô ấy mất tích.”
Không khí trong tiệm im hẳn.
Viên đá vừa ném vào cửa không còn chỉ là lời cảnh cáo từ một người lạ.
Người ném đá là một mắt xích từng xuất hiện trong vụ mất tích năm năm trước.
Trình Dã nhìn khung hình dừng.
“Hưng Cò không tự làm việc này.”
“Vậy ai sai hắn?” tôi hỏi.
Anh không đáp.
Nhưng tôi biết câu trả lời không còn nằm ở tầng dưới như Tôn Mai hay Quách Bình.
Người đứng sau đang nối hai vụ việc:
Trình Vi năm năm trước.
Và Kiều Kiều hiện tại.
Tôi nhìn mảnh kính vỡ trên nền.
Cuộc điều tra vừa mới bắt đầu.
Nhưng Khải Minh đã chủ động đưa một manh mối đến tận cửa nhà tôi.
Bằng một viên đá.