Cá mặn cũng có người muốn nuôi
Sau khi Trung Liệt Quân Hộ Trợ Ngân được lập, Định Viễn Hầu phủ rốt cuộc yên ổn theo một cách rất kỳ diệu.
Không phải vì mọi người bỗng nhiên trở nên hiền lành.
Mà vì ai cũng bắt đầu có việc của mình.
Diệp Tĩnh Xu quản gia.
Thẩm Hoài Tự xử lý quân vụ, thuận tiện tự mang bạc báo ân.
Lạc Thanh Dao bận chạy chuyện quỹ quân hộ.
Tống lão phu nhân tuy vẫn có lúc không vui, nhưng mỗi lần muốn mở miệng nói “rộng lượng”, bên cạnh lập tức có ma ma nhắc nhỏ: “Hầu gia nói rồi, việc gì cũng phải ghi sổ.”
Vì vậy, hai chữ “rộng lượng” trong Hầu phủ cuối cùng giảm tần suất xuất hiện.
Đây là chuyện đáng ăn mừng.
Đối với ta mà nói, người trong phủ có việc làm là chuyện tốt nhất. Người quá rảnh mới dễ nhìn quanh xem ai có viện tốt, ai có ghế nằm đẹp, ai ngủ trưa lâu quá.
Một khi ai cũng bận, ghế nằm của ta liền an toàn.
Mấy ngày đầu lập quỹ, Lạc Thanh Dao còn có chút không quen.
Nàng từng muốn dựa vào danh phận Trung Liệt phu nhân để có được vị trí trong Hầu phủ. Nàng nghĩ mình đã chịu đủ gió cát Sóc Dương, từng vào sinh ra tử cùng Thẩm Hoài Tự, từng cứu người, từng hộ tống quân lương, nên sau khi vào kinh, nàng xứng đáng được người khác nhìn bằng ánh mắt khác.
Nàng nghĩ không sai hoàn toàn.
Người có công đương nhiên đáng được tôn trọng.
Chỉ là nàng sai ở chỗ: nàng muốn sự tôn trọng ấy được đổi bằng việc người khác nhường viện, nhường quyền, nhường thể diện, nhường quy củ.
Trên đời này, nếu một người muốn đứng cao hơn, có hai cách.
Một là tự mình leo lên.
Hai là giẫm người khác xuống.
Lạc Thanh Dao ban đầu chọn cách thứ hai.
Nhưng hiện tại, Kiều Vãn Ninh ta — một con cá mặn vốn không có chí lớn — đã rất tốt bụng chỉ cho nàng cách thứ nhất.
Dù thật lòng mà nói, ta không phải vì muốn giúp nàng.
Ta chỉ muốn nàng bận.
Người bận sẽ không nhớ Tùng La Viện.
Sự thật chứng minh, cách này rất hữu hiệu.
Sau khi danh sách quân hộ Sóc Dương được gửi về, Lạc Thanh Dao gần như ngày nào cũng phải đến An Nghi Đường bàn việc với Diệp Tĩnh Xu. Nàng biết rất rõ vùng nào ở Sóc Dương lạnh nhất, quân hộ nào mất nam nhân trong trận nào, thương binh nào cần thuốc, đứa trẻ nhà nào mới tám tuổi đã phải lên núi nhặt củi.
Lúc nàng nói những chuyện ấy, ánh mắt không còn giống lúc đứng trong chính sảnh tranh viện nữa.
Khi ấy nàng sắc bén, không cam lòng, lúc nào cũng giống bị người khác nợ một phần công đạo.
Còn khi nói đến Sóc Dương, nàng trầm xuống rất nhiều.
Có một lần ta bị Diệp Tĩnh Xu dùng bánh hạt dẻ dụ đến An Nghi Đường xem sổ quỹ. Lạc Thanh Dao cũng ở đó. Nàng đang nói đến một quân hộ họ Hứa. Nam nhân trong nhà chết trận, chỉ còn mẫu thân già và một đôi nhi nữ. Đứa lớn mười một tuổi, đứa nhỏ mới sáu tuổi.
Lạc Thanh Dao nói:
“Mùa đông năm ngoái, ta từng thấy đứa lớn cõng muội muội đi xin than. Nó không khóc, chỉ đứng trước doanh trại nói, mẫu thân nó ho đến ra máu, nếu không có than, người sẽ không sống qua đêm đó.”
Diệp Tĩnh Xu đặt bút xuống, hỏi:
“Sau đó thì sao?”
Lạc Thanh Dao im lặng một lát.
“Sau đó ta chia cho nó nửa túi than của đội vận lương.”
Ta nghe đến đây, hơi ngước mắt nhìn nàng.
Nàng cụp mắt, giọng rất khẽ:
“Lúc đó ta nghĩ, nếu sau này có năng lực, nhất định phải giúp nhiều người hơn. Nhưng vào kinh rồi…”
Nàng không nói hết.
Nhưng người trong phòng đều hiểu.
Vào kinh rồi, nàng bị danh phận, thể diện, vị trí trong phủ làm mờ mắt. Nàng nhớ mình từng có công, nhưng quên mất công lao ấy ban đầu không phải để ép nữ nhân trong hậu trạch nhường đường cho nàng.
Diệp Tĩnh Xu không trách nàng, chỉ nói:
“Vậy hộ Hứa ghi vào nhóm ưu tiên đợt đầu.”
Lạc Thanh Dao ngẩng đầu nhìn nàng.
Lần này, nàng không còn gọi “phu nhân” bằng giọng cứng nhắc nữa.
Nàng nói:
“Đa tạ phu nhân.”
Diệp Tĩnh Xu khẽ gật đầu:
“Việc công, không cần tạ riêng.”
Ta ngồi một bên, cắn bánh hạt dẻ, âm thầm cảm thán.
Chính thê tỷ tỷ quả nhiên là chính thê tỷ tỷ.
Câu nào cũng đoan trang.
Nếu đổi thành ta, ta nhất định sẽ nói: chỉ cần ngươi đừng nhớ Tùng La Viện của ta, chúng ta vẫn có thể cùng nhau ăn bánh.
May mà ta không phải chính thê.
Nếu không Định Viễn Hầu phủ sớm muộn gì cũng bị ta quản thành tiệm điểm tâm.
Quỹ quân hộ dần đi vào quy củ. Diệp Tĩnh Xu lập sổ rất rõ, Thẩm Hoài Tự gửi thư về Sóc Dương xác nhận danh sách, Lạc Thanh Dao phụ trách đối chiếu tình hình cũ. Mỗi khoản bạc xuất ra đều có người ký nhận hoặc điểm chỉ. Mỗi lần phát trợ ngân đều có người của Hầu phủ và người bên quân vụ cùng xác nhận.
Bên ngoài kinh thành, lời đồn cũng đổi hẳn.
Trước kia người ta nói Định Viễn Hầu phủ không dung Trung Liệt phu nhân.
Hiện tại người ta nói Định Viễn Hầu phủ biết báo ân, chính thê rộng lượng, bình thê có nghĩa, Hầu gia trọng tình, ngay cả vị trắc thất Kiều thị kia tuy tính tình kỳ lạ nhưng rất biết sổ sách.
Ta nghe đến câu cuối cùng, miễn cưỡng chấp nhận.
Kỳ lạ thì kỳ lạ.
Miễn đừng nói ta hẹp hòi làm khó người có công nữa.
Lạc Thanh Dao sau đó chủ động xin chuyển ra một biệt viện nhỏ ngoài phủ vài ngày mỗi tháng, tiện tiếp xúc người từ Sóc Dương đến kinh và xử lý việc quỹ quân hộ. Thẩm Hoài Tự đồng ý. Diệp Tĩnh Xu cũng sắp xếp người đi theo, không phải để giám sát, mà là giúp ghi sổ, giữ an toàn và tránh lời đồn khác sinh ra.
Tống lão phu nhân ban đầu không muốn.
Bà thấy Lạc Thanh Dao vào phủ chưa bao lâu đã ra biệt viện, giống như Hầu phủ đuổi người.
Nhưng Thẩm Hoài Tự chỉ nói:
“Mẫu thân, nàng là Trung Liệt phu nhân. Để nàng làm việc đúng với phong hiệu, tốt hơn giữ nàng trong hậu trạch nghe lời đồn.”
Lão phu nhân không phản bác được.
Ta nghe xong, cảm thấy Thẩm Hoài Tự gần đây tiến bộ thật sự nhanh.
Trước kia hắn báo ân bằng cách đem người về phủ, suýt lấy viện của ta trả.
Hiện tại hắn biết để người có công đi làm việc hợp với công lao.
Đây gọi là gì?
Cải tà quy chính.
Dù hơi muộn, nhưng còn cứu được.
Diệp Tĩnh Xu giữ vững quyền quản gia. Sau mấy lần Thẩm Hoài Tự công khai đứng về quy củ, người trong phủ không còn dám tùy tiện vượt qua An Nghi Đường. Nhị phòng vốn thích xem náo nhiệt, sau vụ gấm Vân Châu và bạc lễ chưa trả cũng ngoan hơn nhiều. Nghe nói nhị phu nhân đã lặng lẽ bù bạc vào kho, chỉ là mỗi lần thấy ta đều đi vòng.
Ta rất thông cảm cho nàng.
Không phải ai cũng chịu được cảm giác bị một con cá mặn nhìn ra sổ nợ.
Về phần ta, cuộc sống cuối cùng trở về quỹ đạo.
Sáng ăn điểm tâm.
Trưa ngủ.
Chiều uống trà.
Rảnh thì xem thoại bản.
Có việc thì đóng cửa.
Không có việc càng đóng cửa.
Bảng giờ tiếp khách của Tùng La Viện sau nhiều lần sửa đổi, hiện tại đã rất hoàn chỉnh.
Nội dung bao gồm:
Giờ ngủ trưa tuyệt đối không tiếp.
Khi đang ăn trái cây không tiếp.
Trời quá nóng không tiếp.
Trời quá lạnh không tiếp.
Tâm tình không tốt không tiếp.
Người đến tay không xếp sau người mang điểm tâm.
Người mang lê ngon được ưu tiên hơn người mang điểm tâm thường.
Điểm tâm không thể thay bạc.
Bạc có thể thay điểm tâm, nhưng điểm tâm vẫn nên mang.
Việc khẩn cấp liên quan đến cháy viện, mất bạc, mất hộp văn thư, mất ghế nằm thì có thể truyền ngay.
Hầu gia vào viện phải báo trước.
Dòng cuối là mới thêm.
Bởi vì Thẩm Hoài Tự gần đây càng ngày càng quen đường đến Tùng La Viện.
Quen đến mức khiến ta cảm thấy nguy hiểm.
Lần đầu, hắn báo trước nửa canh giờ, mang bánh lê hấp mật.
Lần thứ hai, hắn báo trước một canh giờ, mang lê vàng từ Nam Uyển.
Lần thứ ba, hắn báo trước từ sáng, mang cả điểm tâm lẫn một túi bạc nhỏ.
Ta nhận bạc xong, cho hắn ngồi ba chén trà.
Tang Quả sau đó lặng lẽ nói:
“Chủ tử, Hầu gia hình như đã hiểu quy củ rồi.”
Ta nhìn túi bạc trên bàn.
“Hiểu cũng tốt. Người hiểu quy củ dễ sống chung.”
Tang Quả nhỏ giọng:
“Nhưng người khác trong phủ nói Hầu gia đang lấy lòng người.”
Ta im lặng một lúc.
“Lấy lòng thì lấy lòng, miễn đừng lấy viện.”
Tang Quả: “…”
Nàng có lẽ vẫn cảm thấy ta hơi không giống nữ tử bình thường.
Nhưng ta đã sớm không theo đuổi chuyện bình thường.
Người bình thường ở hậu trạch dễ mệt lắm.
Một buổi chiều nọ, Diệp Tĩnh Xu lại đến Tùng La Viện uống trà.
Nàng gần đây đến chỗ ta nhiều hơn trước. Người trong phủ từ ban đầu kinh ngạc, đến sau đó quen dần. Dù sao chính thê và trắc thất ngày ngày uống trà dưới gốc lê, nghe lạ thì có lạ, nhưng so với việc bình thê lập quỹ quân hộ, Hầu gia đứng ngoài cửa viện chờ giờ tiếp khách, thì chuyện này cũng không tính là quá kỳ quái.
Diệp Tĩnh Xu ngồi bên bàn đá, nhìn bảng giờ tiếp khách ngoài cửa, đọc đến dòng “điểm tâm không thể thay bạc” thì cười.
“Vãn Ninh, muội thật sự định để bảng này treo mãi sao?”
Ta nằm trên ghế mây, rất bình tĩnh:
“Treo đến khi mọi người trong phủ đều nhớ.”
“Ta thấy bọn họ đã nhớ rồi.”
“Vậy treo để nhắc người mới.”
Diệp Tĩnh Xu nhướng mày:
“Người mới nào?”
Ta đáp:
“Biết đâu sau này Hầu gia lại báo ân.”
Diệp Tĩnh Xu suýt sặc trà.
Nàng đặt chén xuống, vừa cười vừa nói:
“Muội đúng là không chịu thiệt nửa phần.”
Ta sửa lại:
“Chịu thiệt rất mệt.”
Nàng cười lắc đầu:
“Muội biến Hầu gia thành khách đến cửa phải đưa lễ.”
Ta nghiêm túc đáp:
“Tỷ tỷ, người như hắn mà không đặt quy củ, sau này quen trèo tường thì sao?”
Vừa nói xong, ngoài viện truyền đến tiếng ho nhẹ.
Ta nhắm mắt.
Lại nữa.
Thẩm Hoài Tự thật sự có một loại bản lĩnh rất đáng sợ: luôn xuất hiện đúng lúc nghe được câu không nên nghe.
Tang Quả đứng ngoài cửa, giọng nhỏ như muỗi:
“Hầu gia đến.”
Thẩm Hoài Tự bước vào, trong tay không phải điểm tâm, mà là một hộp gỗ dài. Phía sau hắn còn có hai gã sai vặt khiêng một vật được phủ vải.
Ta ngồi dậy một chút.
Diệp Tĩnh Xu nhìn vật kia, khóe môi hơi cong, giống như đã biết trước.
Ta lập tức nhìn nàng.
“Tỷ tỷ biết?”
Nàng uống trà:
“Biết một chút.”
Phản bội.
Chính thê tỷ tỷ vậy mà không báo trước cho ta.
Thẩm Hoài Tự đi đến dưới gốc lê, nhìn ta:
“Hôm nay không phải giờ ngủ trưa.”
Ta gật đầu.
“Trời không nóng.”
“Ừ.”
“Cũng không lạnh.”
“Ừ.”
“Ta có báo trước với Tang Quả.”
Ta nhìn Tang Quả.
Tang Quả lập tức cúi đầu:
“Hầu gia có báo trước một khắc.”
Ta quay lại nhìn hắn:
“Một khắc cũng gọi là báo trước?”
Thẩm Hoài Tự trầm mặc một chút:
“Lần sau nửa canh giờ.”
Ta hài lòng hơn một chút.
“Vậy Hầu gia hôm nay đến có việc gì?”
Hắn ra hiệu cho hai gã sai vặt phía sau.
Tấm vải được mở ra.
Ta nhìn vật trước mặt, ngẩn người.
Đó là một chiếc ghế nằm mới.
Làm bằng gỗ tốt màu nâu trầm, thân ghế chạm hoa mây rất tinh tế, độ cong nhìn qua đã biết được tính toán cẩn thận. Trên ghế có đệm mềm màu xanh nhạt, bên cạnh còn gắn một bàn nhỏ có thể đặt trà, trái cây và thoại bản. Dưới chân ghế còn có một ngăn kéo nhỏ.
Ta đứng dậy.
Lần này đứng dậy rất nhanh.
Nhanh đến mức Tang Quả cũng kinh ngạc.
Ta đi vòng quanh chiếc ghế nằm mới một vòng.
Gỗ tốt.
Đệm mềm.
Bàn nhỏ vừa tầm.
Ngăn kéo đủ để giấu thoại bản và vài tờ giấy ghi sổ.
Quan trọng nhất là độ dài vừa đủ. Nằm lên chắc chắn không bị hụt chân.
Ta nghiêm túc nhìn Thẩm Hoài Tự:
“Hầu gia, đây là?”
Hắn nói:
“Ghế nằm mới.”
Ta im lặng.
Ta biết đây là ghế nằm mới.
Ta muốn hỏi vì sao đưa.
Thẩm Hoài Tự như hiểu ánh mắt ta, nói tiếp:
“Chiếc ghế cũ của nàng dùng lâu rồi. Lần trước ta nghe Tang Quả nói, chỗ tay vịn bên trái hơi lỏng.”
Ta lập tức nhìn Tang Quả.
Tang Quả cúi đầu, nhỏ giọng:
“Nô tỳ chỉ thuận miệng nói một câu…”
Thẩm Hoài Tự nói:
“Ta cho thợ mộc đo theo dáng ghế cũ, không đổi độ cong. Bàn nhỏ bên cạnh rộng hơn một chút, có thể đặt đĩa lê. Ngăn kéo dưới ghế để nàng đặt văn thư nhỏ hoặc thoại bản.”
Ta nhìn hắn.
Lần đầu tiên, ta cảm thấy vị Hầu gia này không chỉ học nhanh, mà còn học rất đúng trọng điểm.
Hắn không tặng ta trâm ngọc.
Không tặng ta y phục.
Không tặng hoa.
Không nói mấy lời khiến người ta nổi da gà.
Hắn tặng ta một chiếc ghế nằm.
Một chiếc ghế nằm có bàn nhỏ đặt lê và ngăn kéo để văn thư.
Đây là món quà rất thực tế.
Thực tế đến mức ta không thể không thích.
Diệp Tĩnh Xu ngồi bên cạnh, cười nói:
“Muội không thử sao?”
Ta ho nhẹ một tiếng:
“Thử quà trước mặt người tặng có thất lễ không?”
Diệp Tĩnh Xu đáp:
“Không thử mới thất lễ với thợ mộc.”
Rất có lý.
Ta lập tức ngồi xuống.
Sau đó nằm xuống.
Gió dưới gốc lê thổi qua, đệm mềm vừa vặn đỡ lưng, tay vịn cao thấp hợp lý, bàn nhỏ bên cạnh đúng tầm với.
Ta nhắm mắt một lát.
Rất tốt.
Nếu nói chiếc ghế cũ là cuộc sống dưỡng lão ban đầu của ta, thì chiếc ghế mới này chính là cuộc sống dưỡng lão đã được nâng cấp.
Ta mở mắt, chân thành nói:
“Đa tạ Hầu gia.”
Thẩm Hoài Tự nhìn ta:
“Thích?”
Ta gật đầu:
“Thích.”
Hắn dường như thở nhẹ ra.
Đáng thương.
Một vị Hầu gia từng trấn thủ biên thành, đối mặt đao thương không đổi sắc, vậy mà đứng trước một con cá mặn nằm thử ghế lại có vẻ hơi căng thẳng.
Ta suy nghĩ, cảm thấy mình nên khen thêm một câu.
“Ghế tốt hơn hoa.”
Thẩm Hoài Tự khựng lại:
“Vì sao?”
“Hoa héo, ghế nằm được.”
Diệp Tĩnh Xu cúi đầu cười.
Thẩm Hoài Tự nhìn ta một lúc, rồi cũng cười rất nhẹ.
Đó là lần đầu ta thấy hắn cười rõ ràng như vậy.
Không phải cười lạnh, không phải khóe miệng hơi động vì nghẹn, mà là thật sự cảm thấy buồn cười.
Ta bỗng thấy người này cười lên cũng không quá đáng ghét.
Dĩ nhiên, chỉ là không quá đáng ghét.
Còn muốn nâng lên mức đáng thích thì phải xem hắn sau này có tiếp tục đưa bạc đúng hạn hay không.
Thẩm Hoài Tự đi đến bên cạnh chiếc ghế mới, đứng dưới bóng lê.
Hắn nói:
“Sau này nàng cứ nằm.”
Ta nhìn hắn.
Hắn lại nói:
“Có việc gì, gọi ta.”
Ta hỏi rất thật lòng:
“Gọi ngài làm gì?”
Thẩm Hoài Tự nhìn ta, ánh mắt không còn sắc bén như lúc mới hồi phủ. Trong mắt hắn có chút bất đắc dĩ, chút mềm xuống, và một thứ gì đó ta chưa kịp nhìn rõ.
Hắn đáp:
“Làm chỗ dựa cho nàng.”
Gió qua tàng lê, lá cây khẽ lay.
Tang Quả đứng bên cạnh, mắt sáng rực như nghe thấy thoại bản đến đoạn nam chính tỏ lòng.
Diệp Tĩnh Xu im lặng uống trà, nhưng khóe môi cong lên.
Ta nằm trên ghế mới, suy nghĩ rất nghiêm túc.
Chỗ dựa.
Nghe có vẻ rất hữu dụng.
Nhưng người này cao, đứng gần quá sẽ chắn nắng.
Ta đưa tay chỉ về phía bên kia gốc lê.
“Vậy trước mắt chỗ dựa này đứng bên kia đi, đừng chắn nắng.”
Tang Quả: “…”
Diệp Tĩnh Xu rốt cuộc không nhịn được, bật cười.
Thẩm Hoài Tự nhìn ta rất lâu.
Sau đó hắn thật sự lùi sang bên kia một bước.
Nắng lại rơi lên người ta.
Ấm vừa đủ.
Ta hài lòng nhắm mắt.
Không khí trong Tùng La Viện hôm ấy rất tốt.
Diệp Tĩnh Xu ngồi bên bàn đá uống trà, thỉnh thoảng cùng ta nói vài câu chuyện trong phủ. Nàng nói nhị phòng gần đây ngoan hơn nhiều, kho phòng đã thay quy củ mới, người dưới không còn dám mượn đồ không ghi. Nàng còn nói quỹ quân hộ đợt đầu đã chuẩn bị gửi bạc đến Sóc Dương, Lạc Thanh Dao sẽ đi cùng người của Hầu phủ đến biệt viện ngoài thành tiếp danh sách.
Ta nghe xong, gật đầu:
“Rất tốt.”
Diệp Tĩnh Xu hỏi:
“Muội không thấy mình có công sao?”
Ta lắc đầu:
“Không. Muội chỉ muốn bọn họ bớt gây chuyện.”
Thẩm Hoài Tự đứng bên cạnh, chậm rãi bóc một quả lê.
Đúng vậy.
Hắn đang bóc lê.
Một vị Hầu gia từng đánh trận ở Sóc Dương, hiện tại đứng dưới cây lê trong Tùng La Viện, tay cầm dao nhỏ, rất nghiêm túc gọt vỏ lê.
Mới đầu ta rất không yên tâm.
Dù sao người cầm đao giết địch chưa chắc biết gọt lê mỏng.
Nhưng nhìn một lúc, phát hiện tay hắn rất ổn. Vỏ lê được gọt thành một dải dài, không đứt, cũng không lãng phí quá nhiều thịt quả.
Ta lập tức yên tâm hơn.
Người biết gọt lê có thể cho thêm điểm.
Tang Quả đứng bên cạnh quạt gió cho ta, ánh mắt thỉnh thoảng liếc sang Thẩm Hoài Tự, vẻ mặt như thể thế giới quan đang được xây lại.
Ta hiểu nàng.
Ai có thể nghĩ đến, mấy tháng trước ta còn là trắc thất không được sủng, ngày ngày nằm phơi nắng. Mấy tháng sau, chính thê ngồi cạnh ta uống trà, Hầu gia đứng bên cạnh gọt lê, bình thê bận làm quỹ quân hộ, lão phu nhân không còn tùy tiện ép ta dọn viện.
Đời người đúng là khó đoán.
Nếu sớm biết giữ một cái viện sẽ kéo ra nhiều chuyện như vậy, ngày đầu tiên xuyên đến, ta nhất định sẽ ngủ thêm một canh giờ để tích sức.
Thẩm Hoài Tự đặt lê đã cắt lên đĩa, đưa đến bên cạnh ta.
Ta cầm một miếng ăn thử.
Ngọt.
Ta gật đầu:
“Hầu gia gọt không tệ.”
Hắn nhìn ta:
“Được ưu tiên ngồi thêm một chén trà không?”
Ta suy nghĩ.
Lê ngọt.
Ghế tốt.
Hôm nay hắn không chắn nắng.
“Được.”
Thẩm Hoài Tự khóe môi hơi cong.
Diệp Tĩnh Xu nhìn cảnh ấy, cười nhẹ:
“Vãn Ninh, muội thật sự định cứ như vậy sao?”
Ta hỏi:
“Như vậy là thế nào?”
“Nằm ghế, ăn lê, để Hầu gia đứng bên cạnh gọt trái cây.”
Ta suy nghĩ một lát:
“Nếu Hầu gia không thấy mệt, muội cũng không ngại.”
Thẩm Hoài Tự nói:
“Không mệt.”
Ta lập tức nói:
“Vậy mai có thể gọt tiếp.”
Thẩm Hoài Tự: “…”
Diệp Tĩnh Xu cười đến mức chén trà trong tay khẽ rung.
Ta cũng thấy rất vui.
Không phải vì có Hầu gia gọt lê.
Mà vì đến giờ khắc này, ta bỗng cảm thấy Tùng La Viện thật sự trở thành nơi của mình.
Không phải chỗ tạm ở.
Không phải nơi có thể bị người ta lấy đi để báo ân.
Không phải một cái viện nằm trong sổ phân phối của Hầu phủ.
Mà là nhà.
Nơi ta có thể đặt quy củ, có thể từ chối khách, có thể giữ hộp văn thư, có thể nằm dưới gốc lê, có thể nói “đừng chắn nắng” mà người kia thật sự lùi sang một bên.
Diệp Tĩnh Xu vẫn là chính thê của Định Viễn Hầu phủ, không bị hạ thấp, không bị đẩy vào cảnh tranh sủng tầm thường. Nàng có quyền quản gia, có sổ sách, có sự tôn trọng muộn màng nhưng rõ ràng của Thẩm Hoài Tự.
Lạc Thanh Dao vẫn là Trung Liệt phu nhân. Nàng không biến thành kẻ ác không thể cứu. Nàng chỉ đi một đoạn đường sai, rồi bị ép quay về con đường cần đi. Nàng có danh phận, có việc thật, có trách nhiệm thật. Nếu sau này nàng làm tốt quỹ quân hộ, người đời nhắc đến nàng sẽ không chỉ nói nàng là bình thê của Định Viễn Hầu, mà sẽ nói nàng là người từng giúp quân hộ Sóc Dương vượt qua mùa đông.
Thẩm Hoài Tự thì sao?
Hắn cuối cùng học được một đạo lý rất quan trọng.
Báo ân phải tự bỏ bạc.
Không thể lấy nhà của người khác trả.
Còn ta?
Ta vẫn là Kiều Vãn Ninh của Tùng La Viện.
Không tranh sủng.
Không sinh sự.
Không muốn làm nữ đế.
Không muốn quản hậu trạch.
Chỉ muốn ăn lê, ngủ trưa, giữ ghế nằm, giữ viện, giữ nguyệt lệ đúng hạn.
Nếu thỉnh thoảng có người mang bạc, mang điểm tâm, mang lê ngon đến, ta cũng không phản đối.
Dù sao cá mặn cũng cần được nuôi.
Buổi chiều dần nghiêng xuống.
Nắng xuyên qua lá lê, rơi thành từng mảng nhỏ trên chiếc ghế nằm mới. Ta nằm trên ghế, Diệp Tĩnh Xu ngồi bên cạnh uống trà, Thẩm Hoài Tự đứng dưới cây lê tiếp tục gọt trái cây, Tang Quả quạt gió sau lưng ta.
Không ai cãi nhau.
Không ai nhắc dọn viện.
Không ai nói rộng lượng.
Không ai phá giấc ngủ trưa của ta.
Ta cảm thấy cảnh này rất đáng ghi vào hộp văn thư.
Sau này nếu có người hỏi ta xuyên không là cảm giác gì, ta vẫn sẽ nói: xuyên không rất phiền.
Nhưng nếu giữ được nhà, có người đưa bạc, có chính thê tỷ tỷ đáng tin, có nha hoàn biết cứu hộp văn thư, có Hầu gia biết gọt lê mà không chắn nắng, thì cuộc sống dưỡng lão cũng không phải không thể tiếp tục.
Về sau, người trong Chiêu Kinh đều nói, trắc thất của Định Viễn Hầu phủ là người kỳ lạ nhất.
Không tranh sủng, không sinh sự, chỉ ôm một chiếc ghế nằm sống chết không dọn viện.
Nhưng cũng chính nàng, bằng một cái miệng và một hộp văn thư, giữ lại thể diện cho chính thê, ép bình thê làm việc thật, khiến Hầu gia học được đạo lý lớn nhất đời mình:
Báo ân thì tự bỏ bạc.
Đừng lấy nhà của người khác trả.