Ta không tranh sủng, ta tranh nhà
Nếu có người hỏi xuyên không là cảm giác gì, trước kia ta nhất định sẽ đáp bằng vẻ mặt vô tri:
Không biết, chưa từng xuyên.
Nhưng hiện tại, nếu ai lại hỏi ta câu ấy, ta nhất định sẽ nghiêm túc nói với họ rằng: xuyên không không đáng sợ, đáng sợ là xuyên xong vẫn phải dậy sớm.
May mà trời cao còn có chút lương tâm.
Ta xuyên thành trắc thất của Định Viễn Hầu phủ, mà vị phu quân trên danh nghĩa của ta — Định Viễn Hầu Thẩm Hoài Tự — đã trấn thủ biên thành Sóc Dương ba năm, chưa từng về phủ.
Nói cách khác, ta có danh phận, có viện riêng, có nguyệt lệ, có y phục bốn mùa, có cơm ăn ba bữa, nhưng không cần hầu hạ phu quân.
Kiếp trước ta làm dân văn phòng, ban ngày bị sếp gọi họp, ban đêm bị tin nhắn công việc gọi hồn. Có lần ta vừa đặt lưng xuống giường lúc nửa đêm, sếp gửi tới một câu: “Em ngủ chưa?”
Đó không phải câu hỏi.
Đó là bùa chiêu hồn.
Ta thức trắng đêm sửa báo cáo, sửa đến lúc mắt trái nhìn thấy kiếp này, mắt phải nhìn thấy kiếp sau. Sau đó, ta mở mắt ra, đã biến thành Kiều Vãn Ninh — một trắc thất không được sủng trong Định Viễn Hầu phủ.
Lúc mới xuyên tới, nha hoàn bên cạnh khóc sưng cả mắt, nói:
“Chủ tử, Hầu gia ở biên quan ba năm chưa về, người vừa vào phủ đã bị lạnh nhạt như vậy, sau này phải làm sao đây?”
Ta nằm trên giường bệnh, vừa tỉnh lại, đầu còn đau như bị ai nhét cả cuốn gia phả vào trong óc. Nghe xong câu ấy, ta chỉ hỏi một chuyện:
“Nguyệt lệ có phát không?”
Nha hoàn sửng sốt.
Ta lại hỏi:
“Cơm có đủ ăn không?”
Nàng gật đầu.
“Viện này là của ta ở sao?”
Nàng lại gật đầu.
“Chính thê có đánh người không?”
Nha hoàn vội lắc đầu: “Phu nhân tính tình ổn trọng, quản gia công bằng, chưa từng làm khó chủ tử.”
Ta nghe xong, suýt nữa rơi lệ vì cảm động.
Đây là lạnh nhạt sao?
Không.
Đây là nghỉ hưu sớm.
Thử hỏi, trên đời còn có phúc khí nào lớn hơn chuyện lĩnh lương đúng hạn mà không cần đi làm?
Bởi vậy sau ba tháng xuyên tới, ta đã hoàn toàn thích nghi với cuộc sống ở Định Viễn Hầu phủ.
Tùng La Viện của ta không tính là viện lớn nhất trong phủ, nhưng thắng ở thanh tĩnh. Trong viện có một cây lê, xuân nở hoa trắng, hạ kết quả xanh, thu có lá vàng, đông thì cành khô cũng rất có phong vị. Góc viện có giếng nhỏ, sau nhà có bếp nhỏ, dưới tàng cây còn đặt một chiếc ghế mây dài do nguyên thân trước kia bỏ bạc thuê thợ mộc đóng.
Ta rất hài lòng với chiếc ghế ấy.
Độ cong vừa đủ, nằm lâu không đau lưng. Bên cạnh đặt một cái bàn nhỏ, trên bàn có thể để trà, trái cây, điểm tâm, sổ nguyệt lệ và quạt tròn.
Đời người còn cầu gì hơn?
Người khác xuyên không thì muốn tranh quyền, tranh sủng, báo thù, làm nữ đế, tay trái xoay triều đình, tay phải lật hậu cung.
Còn ta chỉ có một nguyện vọng mộc mạc:
Đừng ai gọi ta dậy làm việc.
Hôm ấy, nắng tháng ba vừa đẹp.
Ta nằm trên ghế mây dưới gốc lê, tay cầm nửa quả lê vừa gọt, bên cạnh là Tang Quả đang cầm quạt tròn quạt gió cho ta.
Tang Quả là nha hoàn thân cận của ta. Người như tên, mặt tròn, mắt cũng tròn, lá gan nhỏ đến mức nghe mèo kêu trong đêm cũng có thể ôm gối chạy vào phòng ta hỏi có phải yêu quái không.
Nhưng nàng có một ưu điểm rất lớn: trung thành.
Một nha hoàn trung thành, biết gọt lê, biết pha trà, còn biết im lặng khi chủ tử ngủ trưa, đối với ta mà nói, quý hơn ngọc bội gia truyền.
Ta cắn một miếng lê, ngọt đến mức mắt hơi híp lại.
Tang Quả nhỏ giọng nói:
“Chủ tử, hôm nay phu nhân bên An Nghi Đường cho người đưa vải mùa xuân tới, nô tỳ đã nhận rồi ạ. Còn có hai hộp điểm tâm hạt sen.”
Ta gật đầu, rất hài lòng.
Chính thê Diệp Tĩnh Xu quả thật là một người khiến ta kính nể.
Nàng là đích nữ Diệp gia, xuất thân thư hương, vào phủ ba năm, phu quân ở biên quan ba năm, một mình quản lý Định Viễn Hầu phủ đâu vào đấy. Không vì mình là chính thê mà chèn ép thiếp thất, cũng không giả hiền đến mức khiến người khác nổi da gà. Nàng giữ quy củ, phát nguyệt lệ đúng hạn, thưởng phạt phân minh, không cho người dưới tùy tiện giẫm đạp ai.
Đối với một trắc thất chỉ muốn nằm yên như ta, chính thê như vậy chẳng khác nào trời cao gửi đến quản lý ký túc xá mẫu mực.
Ta có thể không thích Thẩm Hoài Tự, nhưng ta rất tôn trọng Diệp Tĩnh Xu.
Đang nghĩ đến nàng, ngoài viện đã có tiếng bước chân.
Tang Quả vội đứng thẳng người:
“Chủ tử, hình như là phu nhân tới.”
Ta định ngồi dậy hành lễ, nhưng người còn chưa kịp động, rèm trúc ngoài hành lang đã được nha hoàn vén lên. Diệp Tĩnh Xu bước vào trong viện.
Nàng mặc áo ngoài màu xanh nhạt, tóc vấn gọn, trên đầu chỉ cài một cây trâm ngọc đơn giản. Người không cần trang sức rườm rà, chỉ cần đứng đó đã có vẻ đoan trang khiến người khác không dám lỗ mãng.
Ta đặt quả lê xuống, chống tay định đứng lên.
Diệp Tĩnh Xu nhìn chiếc ghế mây của ta, lại nhìn vẻ mặt vừa tỉnh vừa tiếc ngủ của ta, khóe môi hơi cong.
“Thôi, muội muội cứ nằm đi.”
Ta lập tức ngồi lại nửa chừng, không khách sáo quá mức.
Đời người quý ở chỗ biết nghe lời khuyên.
Diệp Tĩnh Xu đi đến dưới gốc lê, nha hoàn phía sau lập tức đặt hộp điểm tâm lên bàn đá. Nàng nhìn ta, nửa cười nửa trêu:
“Muội muội đúng là biết hưởng phúc.”
Ta nghiêm túc đáp:
“Phúc đã đến thì phải hưởng ngay, lỡ ngày mai hết thì sao?”
Diệp Tĩnh Xu khựng lại một chút, sau đó bật cười.
Nàng rất ít khi cười thành tiếng. Phần lớn thời gian, nàng chỉ hơi cong môi, vừa đủ lễ, vừa đủ xa cách. Hôm nay nàng cười như vậy, Tang Quả đứng bên cạnh cũng ngẩn người.
Diệp Tĩnh Xu ngồi xuống ghế đá, nói:
“Trong phủ nhiều người nhìn muội như vậy, muội thật sự không lo sao?”
Ta hiểu ý nàng.
Trong phủ này không thiếu người cảm thấy ta quá lười. Có vài ma ma sau lưng từng nói, trắc thất như ta không được Hầu gia sủng ái, không tranh không đoạt, lại ngày ngày chỉ biết nằm phơi nắng, sau này sớm muộn gì cũng bị người ta quên mất.
Ta cắn thêm một miếng lê, đáp:
“Bị quên cũng tốt. Người bị nhớ đến quá nhiều thường không có ngày lành.”
Diệp Tĩnh Xu nhìn ta một lúc, ánh mắt có chút ý vị.
Ta tiếp tục nói:
“Phu nhân yên tâm, ta không có chí lớn. Ta không tranh sủng, không gây chuyện, không đòi hỏi thêm phần lệ. Chỉ cần nguyệt lệ đúng hạn, cơm nóng đúng bữa, không ai kéo ta đi xem náo nhiệt, ta có thể sống rất quy củ.”
Diệp Tĩnh Xu nâng chén trà lên, nhẹ giọng:
“Muội đúng là khác người.”
Ta thở dài:
“Không khác người không được. Người bình thường đều mệt.”
Nàng lại cười.
Hai chúng ta ngồi dưới tàng lê uống trà một lát. Nói là uống trà, thật ra phần lớn thời gian là Diệp Tĩnh Xu hỏi một câu, ta đáp một câu. Nàng không phải người nói nhiều, ta lại là người có thể không nói thì tiết kiệm hơi. Cho nên cuộc trò chuyện của chúng ta cực kỳ dưỡng sinh.
Trước khi rời đi, Diệp Tĩnh Xu nhìn ta nói:
“Ít ngày nữa trong phủ có lẽ sẽ bận rộn hơn. Nếu có việc gì thiếu, cứ bảo người đến An Nghi Đường báo một tiếng.”
Ta nghe thấy hai chữ “bận rộn”, trong lòng lập tức sinh ra dự cảm không lành.
Nhưng ta vẫn giữ vẻ bình tĩnh, gật đầu nói:
“Đa tạ phu nhân. Nếu có thể không bận đến Tùng La Viện thì càng tốt.”
Diệp Tĩnh Xu dừng chân, nhìn ta một cái.
Ánh mắt ấy khiến ta cảm thấy nàng biết điều gì đó, nhưng chưa tiện nói.
Quả nhiên, phúc đến thì phải hưởng ngay.
Bởi vì ngày mai phúc chưa chắc còn.
Không đến hai canh giờ sau, trong cung có thánh chỉ truyền đến Định Viễn Hầu phủ.
Lúc ấy ta vừa ăn xong cơm trưa, chuẩn bị ngủ một giấc. Tang Quả đang trải đệm mỏng lên ghế nằm cho ta. Ngoài viện bỗng vang lên tiếng bước chân vội vã, tiếp đó là tiếng nha hoàn truyền tin dồn dập.
“Trong cung truyền chỉ! Trong cung truyền chỉ!”
Tang Quả sợ đến mức tay run, đệm mỏng rơi thẳng xuống đất.
Ta nhìn nàng, im lặng một lúc:
“Người truyền chỉ không đến Tùng La Viện chứ?”
Tang Quả mờ mịt đáp:
“Chắc… chắc là đến chính sảnh ạ.”
“Vậy nhặt đệm lên.”
Tang Quả: “…”
Nàng nhìn ta như nhìn một người không có tiền đồ.
Ta cũng cảm thấy mình không có tiền đồ.
Nhưng không có tiền đồ cũng tốt, tiền đồ thường đi kèm tăng ca.
Đáng tiếc, giấc ngủ trưa hôm ấy của ta cuối cùng vẫn không thành.
Nửa canh giờ sau, tin tức truyền khắp Hầu phủ.
Định Viễn Hầu Thẩm Hoài Tự lập công lớn ở biên thành Sóc Dương, được Hoàng thượng khen thưởng, sắp hồi kinh.
Đây vốn là chuyện vui.
Dù sao người đứng đầu Hầu phủ trở về, cả phủ từ trên xuống dưới đều có mặt mũi.
Nhưng phía sau còn có một đạo ý chỉ khác.
Nữ tử Lạc Thanh Dao ở Sóc Dương từng hộ tống quân lương, cứu chủ tướng trong trận chiến, có công với quân. Hoàng thượng ban phong hiệu Trung Liệt phu nhân. Mà Thẩm Hoài Tự cũng đã dâng tấu, xin đưa nàng vào Định Viễn Hầu phủ, đối đãi theo lễ bình thê.
Bình thê.
Hai chữ này giống như một viên đá ném vào ao nước vốn đang phơi nắng yên ổn của Hầu phủ.
Cả phủ lập tức nổi sóng.
Người của lão phu nhân bên Thọ An Đường vui mừng nhất. Nghe nói Tống lão phu nhân vừa nghe tin con trai lập công, lại có ân nhân cứu mạng đi cùng, lập tức sai người quét dọn sân viện, chuẩn bị yến đón gió tẩy trần.
Nhị phòng thì càng náo nhiệt. Người trong viện của nhị phu nhân đi ngang qua giếng nước ba lần trong một buổi chiều, mỗi lần đều nói lớn hơn lần trước:
“Bình thê cơ đấy, sau này trong phủ lại có chuyện hay để xem rồi.”
Ta nghe xong, vô cùng tán thành.
Có chuyện hay thì cứ xem.
Miễn là đừng kéo ta đi diễn.
Về phần Diệp Tĩnh Xu, nàng vẫn bình tĩnh quản sự như thường. Nguyệt lệ vẫn phát, vải vóc vẫn chia, cơm chiều vẫn đúng giờ đưa đến các viện. Nhưng ta biết, lòng nàng chưa chắc bình tĩnh.
Một chính thê có phu quân ba năm không về, bây giờ phu quân vừa lập công trở về đã mang theo một nữ tử có công, còn muốn đối đãi theo lễ bình thê.
Chuyện này đặt lên ai cũng không dễ chịu.
Nhưng Diệp Tĩnh Xu là người thông minh. Nàng sẽ không vì khó chịu mà rối loạn quy củ.
Ta cảm khái một hồi, sau đó tiếp tục nằm xuống.
Tang Quả nhìn ta, nhỏ giọng hỏi:
“Chủ tử, người không lo sao?”
Ta nhắm mắt:
“Lo gì?”
“Vị Lạc phu nhân kia là bình thê. Sau này Hầu gia hồi phủ, trong phủ có chính thê, có bình thê, còn có người…”
Nàng nói đến đây thì ngừng, chắc sợ chọc đau lòng ta.
Ta mở mắt nhìn nàng.
Tang Quả vội cúi đầu.
Ta thở dài, nâng tay vỗ nhẹ lên vai nàng:
“Ngốc ạ, người đau lòng phải là người muốn tranh sủng. Ta không tranh, ta đau cái gì?”
Tang Quả ngẩn ra.
Ta nghiêm túc nói tiếp:
“Hầu gia thích ai, báo ân cho ai, muốn cho ai danh phận, đều là chuyện của Hầu gia. Chỉ cần đừng động đến bữa cơm của ta, nguyệt lệ của ta, viện của ta, ghế nằm của ta, ta có thể chúc bọn họ bách niên hảo hợp.”
Tang Quả do dự:
“Nhưng Hầu gia là phu quân của người mà.”
Ta nghĩ một lát.
Đúng là thế.
Nhưng một phu quân ba năm chưa từng gặp mặt, đối với ta mà nói, còn không thân bằng người bán đậu hũ ngoài ngõ. Ít nhất người bán đậu hũ thỉnh thoảng còn bớt cho ta hai đồng.
Ta đang định nói với Tang Quả đạo lý nhân gian rất thực tế này, thì ngoài viện bỗng vang lên tiếng bước chân gấp gáp.
Một tiểu nha hoàn chạy vào, mặt trắng bệch:
“Kiều di nương, lão phu nhân cho mời người đến chính sảnh.”
Ta chớp mắt.
Tống lão phu nhân?
Từ khi ta xuyên tới, vị lão phu nhân này rất ít khi gọi ta. Trong mắt bà, ta chỉ là một trắc thất không được sủng, đã không gây chuyện, cũng không đáng để bà để ý.
Hôm nay vừa có tin bình thê vào phủ, bà đã gọi ta.
Ta cúi đầu nhìn nửa quả lê trên tay.
Không ổn.
Quả lê này có lẽ không ăn yên.
Tang Quả vội hỏi tiểu nha hoàn:
“Lão phu nhân gọi chủ tử nhà ta có việc gì?”
Tiểu nha hoàn liếc ta một cái, giọng càng nhỏ hơn:
“Nô tỳ nghe nói… nghe nói lão phu nhân muốn để Kiều di nương dọn khỏi Tùng La Viện, nhường viện này cho Lạc phu nhân sắp vào phủ.”
Nửa quả lê trong tay ta dừng lại giữa không trung.
Gió trong viện cũng như ngừng thổi.
Tang Quả trợn tròn mắt:
“Dọn khỏi Tùng La Viện?”
Tiểu nha hoàn gật đầu, nói nhanh:
“Lão phu nhân nói, Tùng La Viện thanh tĩnh, lại gần chính viện, hợp để Lạc phu nhân dưỡng thân. Người có công với Hầu gia, không thể chậm trễ.”
Ta chậm rãi đặt quả lê xuống bàn.
Rất tốt.
Ta vừa mới nói, chỉ cần đừng động đến bữa cơm, nguyệt lệ, viện và ghế nằm của ta, ta có thể chúc bọn họ bách niên hảo hợp.
Kết quả người ta trực tiếp động vào nhà ta.
Ta không quan tâm Hầu gia yêu ai.
Không quan tâm hắn báo ân cho ai.
Càng không quan tâm Lạc Thanh Dao ở Sóc Dương hộ tống bao nhiêu xe quân lương.
Nhưng ai động đến Tùng La Viện, người đó chính là động đến kiếp sống nghỉ hưu của ta.
Ta ngồi thẳng dậy.
Tang Quả thấy vậy, suýt nữa bật khóc:
“Chủ tử, chúng ta phải làm sao đây?”
Ta nhìn nàng:
“Đừng khóc.”
Tang Quả nghẹn lại.
Ta đứng dậy, sửa lại tay áo, bình tĩnh nói:
“Đi lấy hộp gỗ dưới đáy tủ.”
Tang Quả ngẩn ra:
“Hộp gỗ nào ạ?”
“Hộp đựng văn thư nhập phủ, văn thư phân viện, sổ nguyệt lệ, chứng từ sửa viện, khế thợ mộc đóng ghế.”
Tang Quả nhìn ta bằng ánh mắt chấn động.
Ta biết nàng đang nghĩ gì.
Nàng nhất định đang nghĩ: chủ tử ngày thường lười đến mức lật sách cũng thấy mệt, sao lại cất kỹ nhiều thứ như vậy?
Ta nhìn nàng, chân thành giải thích:
“Người lười càng phải giữ chứng cứ. Nếu không sau này bị bắt làm việc oan thì sao?”
Tang Quả lập tức chạy đi lấy hộp.
Một khắc sau, ta mang theo Tang Quả ôm hộp gỗ, đến chính sảnh Định Viễn Hầu phủ.
Trong chính sảnh đã có không ít người.
Tống lão phu nhân ngồi ở chủ vị, tóc bạc chải gọn, mặc áo gấm màu trầm, trên tay lần tràng hạt. Bà không cần nói gì, chỉ ngồi đó cũng đủ khiến hạ nhân trong phủ cúi đầu nín thở.
Diệp Tĩnh Xu ngồi bên trái, sắc mặt bình tĩnh, bên cạnh là mấy quản sự ma ma. Nhị phu nhân của nhị phòng cũng có mặt, đang cầm khăn che môi, ánh mắt lóe lên vẻ chờ xem kịch.
Ta bước vào, hành lễ theo quy củ.
“Vãn Ninh thỉnh an lão phu nhân, thỉnh an phu nhân.”
Tống lão phu nhân nhìn ta, giọng không nặng không nhẹ:
“Đứng dậy đi.”
Ta đứng dậy, ngoan ngoãn cúi mắt.
Nếu không phải trong lòng đã tính xong ba khoản bạc, chỉ nhìn dáng vẻ này, có lẽ ai cũng cảm thấy ta là một trắc thất mềm yếu dễ bắt nạt.
Tống lão phu nhân không vòng vo, trực tiếp nói:
“Chuyện Hầu gia sắp hồi kinh, chắc ngươi cũng nghe rồi.”
Ta đáp:
“Vâng.”
“Lạc phu nhân có công cứu Hầu gia, lại được thánh thượng ban phong hiệu. Nàng ấy vào phủ, không thể để ở nơi tầm thường. Lão thân đã xem qua, Tùng La Viện của ngươi thanh tĩnh, rộng rãi, thích hợp để nàng ấy dưỡng thân.”
Ta im lặng nghe.
Tống lão phu nhân thấy ta không phản ứng, tưởng ta đã sợ, giọng càng thêm đương nhiên:
“Ngươi tạm dọn sang Tây Sương Viện đi. Nơi đó tuy xa hơn một chút, nhưng cũng đủ ở. Ngươi chỉ là trắc thất, nhường viện thì có gì thiệt?”
Câu này vừa dứt, nhị phu nhân đã khẽ cười một tiếng.
Ta ngẩng đầu, nhìn Tống lão phu nhân.
Trong lòng ta không hề tức giận đến mức muốn gào khóc.
Ngược lại, ta rất bình tĩnh.
Bởi vì lúc còn làm dân văn phòng, ta đã hiểu một đạo lý: khi người khác bắt đầu nói chuyện bằng cảm xúc và thân phận, mình càng phải nói bằng giấy tờ.
Ta khẽ hỏi:
“Xin hỏi lão phu nhân, việc dời viện có văn thư đóng ấn Hầu phủ không?”
Cả chính sảnh bỗng yên tĩnh.
Tống lão phu nhân cau mày:
“Văn thư gì?”
Ta đáp rất lễ phép:
“Văn thư dời viện ạ. Khi Vãn Ninh nhập phủ, phủ đã phân Tùng La Viện làm nơi ở, có ghi sổ, có người chứng kiến. Nay muốn dời viện, theo lý cũng nên có văn thư chính thức, ghi rõ lý do, nơi chuyển đến, thời hạn chuyển, đồ vật bàn giao, người chịu trách nhiệm.”
Tống lão phu nhân nhìn ta như thể lần đầu biết ta biết nói tiếng người.
Nhị phu nhân cười khẽ:
“Kiều di nương, lão phu nhân bảo ngươi dọn thì ngươi dọn, cần gì văn thư phiền phức như vậy? Chẳng lẽ trong phủ này lão phu nhân còn sai khiến không được một trắc thất sao?”
Ta nhìn sang nhị phu nhân, mỉm cười:
“Nhị phu nhân nói phải. Lão phu nhân đương nhiên sai khiến được. Nhưng sai khiến là một chuyện, ghi sổ lại là chuyện khác. Nếu hôm nay Vãn Ninh dọn đi mà không có văn thư, ngày mai trong Tùng La Viện thiếu mất một cái chén, hỏng một cái bàn, chết một cây lê, thì tính lên đầu ai?”
Nhị phu nhân nghẹn.
Ta tiếp tục:
“Nếu tính lên đầu Vãn Ninh, Vãn Ninh đã dọn đi, rất oan. Nếu tính lên đầu Lạc phu nhân, nàng ấy vừa vào phủ đã gánh tiếng làm hỏng đồ cũ, càng oan. Nếu tính lên đầu quản sự, quản sự cũng oan. Vì để mọi người đều không oan, vẫn nên có văn thư.”
Cả phòng không ai nói gì.
Tang Quả đứng sau lưng ta, ôm hộp gỗ run run. Ta không biết nàng là sợ hay đang cố nhịn cười.
Tống lão phu nhân đặt mạnh tràng hạt xuống bàn.
“Ngươi đang lấy quy củ ép lão thân?”
Ta lập tức cúi đầu:
“Vãn Ninh không dám. Vãn Ninh chỉ sợ làm việc không có quy củ, sau này khiến lão phu nhân khó xử.”
Nói đến đây, ta quay đầu nhìn Tang Quả.
Tang Quả lập tức mở hộp gỗ.
Trong hộp đặt từng xấp giấy được buộc gọn bằng dây đỏ. Ta lấy ra từng phần, đặt lên bàn bên cạnh.
“Đây là văn thư Vãn Ninh nhập phủ.”
“Đây là ghi chép phân Tùng La Viện cho Vãn Ninh ở.”
“Đây là sổ nguyệt lệ ba tháng qua.”
“Đây là chứng từ sửa mái phía tây Tùng La Viện, tuy bạc là phủ xuất, nhưng đã ghi vào khoản tu sửa viện Vãn Ninh.”
“Đây là khế thợ mộc đóng ghế nằm, bạc do của hồi môn riêng của Vãn Ninh chi.”
Nói đến khế thợ mộc, ta hơi dừng lại.
Chiếc ghế ấy là tâm huyết dưỡng lão của ta.
Không thể bỏ qua.
Ta nhìn Tống lão phu nhân, giọng càng chân thành:
“Vãn Ninh không phải không thể dọn. Chỉ là nếu dọn, cần có ba điều.”
Tống lão phu nhân tức đến bật cười:
“Ngươi còn dám đặt điều kiện?”
“Không phải điều kiện, là quy củ bàn giao.”
Ta dựng một ngón tay.
“Một là văn thư chính thức.”
Ngón thứ hai.
“Hai là viện mới phải có điều kiện tương đương. Có bếp nhỏ, có nước dùng thuận tiện, có chỗ phơi nắng, không dột, không ẩm, không quá xa để ảnh hưởng đến việc thỉnh an.”
Ngón thứ ba.
“Ba là bạc an trí.”
Nhị phu nhân lập tức bắt được chữ này, cười nói:
“Nói tới nói lui, chẳng phải là muốn bạc sao?”
Ta gật đầu rất tự nhiên:
“Đúng vậy.”
Nhị phu nhân: “…”
Có lẽ nàng không ngờ ta thừa nhận nhanh như thế.
Ta nghiêm túc nói:
“Dọn viện cần người khuân đồ, cần kiểm kê, cần sửa viện mới, cần thay vật dụng, cần mua ghế nằm mới. Cây lê trong Tùng La Viện tuy không thể mang đi, nhưng Vãn Ninh ở dưới gốc lê ba tháng, đã có tình cảm. Nếu dọn sang nơi không có lê, cũng nên bồi thường một cây tương đương.”
Tống lão phu nhân tức giận:
“Hoang đường! Một cái cây cũng đòi bồi thường?”
Ta nói:
“Lão phu nhân, cây không đáng tiền, tình cảm đáng tiền.”
Diệp Tĩnh Xu đang nâng chén trà, tay hơi khựng lại.
Nhị phu nhân che môi cười lạnh:
“Kiều di nương thật đúng là biết tính toán.”
Ta nhìn nàng, chậm rãi đáp:
“Ta không tranh sủng, nhưng ta tranh nhà.”
Một câu nói ra, chính sảnh lại lặng đi.
Ta không lớn tiếng, không khóc lóc, không đỏ mắt. Nhưng từng chữ đều rõ ràng.
“Tùng La Viện là nơi phủ phân cho ta ở. Ta không chiếm của ai, không cướp của ai. Nay vì một vị phu nhân chưa vào cửa mà muốn ta dọn đi, nếu nói là vì thể diện Hầu phủ, Vãn Ninh hiểu. Nhưng thể diện không thể chỉ để một mình ta trả giá.”
Ta nhìn Tống lão phu nhân, tiếp tục:
“Hầu gia muốn báo ân, đó là nghĩa khí của Hầu gia. Lạc phu nhân có công, đó là công lao của Lạc phu nhân. Nhưng Vãn Ninh không nợ ân tình ấy. Nếu muốn dùng viện của Vãn Ninh để thành toàn thể diện này, vậy ít nhất cũng nên cho Vãn Ninh một lời rõ ràng, một tờ văn thư và một khoản bạc an trí.”
Không biết có phải ảo giác không, ta thấy ánh mắt Diệp Tĩnh Xu nhìn ta hơi thay đổi.
Trước đó nàng nhìn ta như nhìn một con mèo lười nằm phơi nắng trong viện.
Hiện tại, có lẽ nàng phát hiện con mèo này tuy lười, nhưng móng vuốt vẫn còn.
Tống lão phu nhân sắc mặt rất khó coi.
Bà quen dùng thân phận trưởng bối ép người, quen nghe những lời “vâng”, “dạ”, “thiếp không dám”. Có lẽ chưa từng gặp một trắc thất nào mở miệng là văn thư, ngậm miệng là bạc.
Bà lạnh giọng:
“Ngươi ở Hầu phủ ăn của Hầu phủ, dùng của Hầu phủ, còn dám tính toán rõ ràng với lão thân?”
Ta đáp:
“Chính vì ăn dùng trong Hầu phủ, nên càng phải tính rõ. Nếu không sổ sách loạn, phu nhân quản gia sẽ khó xử.”
Ta vừa nói vừa nhìn về phía Diệp Tĩnh Xu.
Diệp Tĩnh Xu đặt chén trà xuống.
Nàng rốt cuộc lên tiếng:
“Lão phu nhân, Vãn Ninh nói tuy thẳng, nhưng không phải không có lý. Nơi ở trong phủ đã phân thì đều có ghi sổ. Nếu tùy ý đổi, sau này người dưới học theo, quả thật dễ loạn quy củ.”
Tống lão phu nhân cau mày:
“Tĩnh Xu, ngay cả ngươi cũng muốn giúp nàng chống đối lão thân?”
Diệp Tĩnh Xu đứng dậy, hành lễ.
“Con dâu không dám. Con dâu chỉ nghĩ, Lạc phu nhân sắp vào phủ, nếu ngay từ đầu đã vì chuyện viện ở mà khiến người ngoài bàn tán Hầu phủ bạc đãi cũ mới không phân, ngược lại không đẹp. Huống chi Hầu gia chưa hồi kinh, việc phân viện lớn như vậy, có lẽ nên chờ Hầu gia về rồi quyết định.”
Nàng nói rất ôn hòa, nhưng từng chữ đều vững.
Ta thầm cảm thán.
Chính thê không hổ là chính thê.
Ta lấy bạc, nàng lấy thể diện Hầu phủ.
Đánh rất chuẩn.
Nhị phu nhân thấy gió đổi chiều, lập tức nói:
“Phu nhân lời này cũng đúng, nhưng Kiều di nương mở miệng đã đòi bạc, truyền ra ngoài chẳng phải càng khó nghe? Người không biết còn tưởng trắc thất Hầu phủ tham tài.”
Ta nhìn nàng, mỉm cười:
“Tham bạc là muốn lấy bạc của người khác. Ta chỉ muốn giữ đồ của ta.”
Nhị phu nhân nghẹn lần thứ hai.
Ta lại nói:
“Nếu nhị phu nhân cảm thấy bạc không quan trọng, vậy không bằng nhị phu nhân dọn viện cho Lạc phu nhân? Ta nghe nói viện của nhị phu nhân có hoa viên nhỏ, cũng rất thanh tĩnh.”
Sắc mặt nhị phu nhân lập tức thay đổi.
“Ngươi nói bậy gì đó!”
Ta chớp mắt:
“Nhị phu nhân xem, dọn đến viện mình thì không vui, dọn đến viện người khác thì lại khuyên rộng lượng. Xem ra rộng lượng quả thật là mỹ đức quý giá, quý đến mức ai cũng muốn người khác có.”
Diệp Tĩnh Xu cúi đầu uống trà.
Lần này ta chắc chắn nàng đang cười.
Tống lão phu nhân bị một câu này làm cho mặt lúc xanh lúc trắng. Bà không thể thật sự bắt nhị phòng dọn, càng không thể trước mặt Diệp Tĩnh Xu cưỡng ép ta ký giấy dời viện.
Chuyện này nếu truyền ra ngoài, sẽ thành Định Viễn Hầu phủ vì đón bình thê có công mà cưỡng ép trắc thất dọn khỏi viện cũ. Nghe thì không lớn, nhưng đủ làm người ta nói Hầu phủ quy củ rối loạn, chính thê vô năng, lão phu nhân thiên vị.
Cuối cùng, Tống lão phu nhân chỉ có thể lạnh lùng nói:
“Chuyện này chờ Hầu gia hồi phủ rồi bàn lại.”
Ta lập tức hành lễ:
“Vãn Ninh tuân lời lão phu nhân.”
Tuyệt đối không nói thêm.
Đánh trận phải biết thu binh. Người lười càng phải tiết kiệm sức.
Ta mang theo Tang Quả và hộp văn thư rời khỏi chính sảnh.
Ra đến ngoài hành lang, Tang Quả vẫn còn run.
Nàng nhỏ giọng nói:
“Chủ tử, vừa rồi người thật sự dám nói…”
Ta nhìn nàng:
“Ta nói rất nhỏ mà.”
Tang Quả nghẹn:
“Nhưng từng câu đều rất dọa người.”
Ta thở dài:
“Không dọa người, người ta sẽ dọa ta.”
Tang Quả ôm hộp gỗ chặt hơn, vẻ mặt vừa sợ vừa kính nể.
Đi được vài bước, phía sau bỗng truyền đến giọng nói của Diệp Tĩnh Xu.
“Vãn Ninh.”
Ta dừng lại, quay người hành lễ:
“Phu nhân.”
Diệp Tĩnh Xu đi đến trước mặt ta. Ánh mắt nàng dừng trên chiếc hộp gỗ Tang Quả ôm, sau đó nhìn ta.
“Muội cất những thứ này từ bao giờ?”
Ta đáp thật lòng:
“Từ ngày đầu tỉnh lại.”
Nàng hơi ngạc nhiên.
Ta giải thích:
“Ta không có sở trường gì lớn, chỉ có một thói quen. Đồ liên quan đến chỗ ở, tiền bạc, giấy tờ, đều phải giữ kỹ. Kiếp trước…”
Ta suýt buột miệng nói kiếp trước, vội đổi lời:
“Trước kia ở nhà, mẫu thân từng dạy ta như vậy.”
Diệp Tĩnh Xu nhìn ta một lúc, không hỏi tiếp.
Người thông minh có điểm tốt là biết khi nào nên dừng.
Nàng khẽ nói:
“Hôm nay muội khiến ta bất ngờ.”
Ta cúi đầu:
“Vãn Ninh chỉ muốn giữ viện.”
Diệp Tĩnh Xu nhẹ nhàng cong môi:
“Ta biết.”
Nàng dừng một chút rồi nói:
“Nhưng có khi giữ viện của muội, cũng là giữ quy củ của cả phủ.”
Ta không đáp.
Nói thật, lý tưởng của ta không lớn đến thế.
Ta chỉ thấy nếu hôm nay ta nhường Tùng La Viện không tiếng động, ngày mai người khác sẽ cảm thấy đồ của ta đều có thể nhường. Ghế nằm có thể nhường, nguyệt lệ có thể nhường, bếp nhỏ có thể nhường, cuối cùng ngay cả giấc ngủ trưa cũng phải nhường.
Đời người còn gì đáng sống?
Diệp Tĩnh Xu không giữ ta lâu, chỉ nói:
“Về nghỉ đi. Mấy ngày tới có lẽ không yên ổn.”
Ta nghe vậy, trong lòng đau xót.
Quả nhiên phúc hết rồi.
Trở lại Tùng La Viện, nắng đã lệch sang tây.
Chiếc ghế mây của ta vẫn nằm dưới gốc lê, trên bàn nhỏ còn đặt nửa quả lê chưa ăn xong. Gió thổi qua cành lá, bóng cây loang lổ rơi trên mặt ghế, yên tĩnh đến mức khiến người ta muốn quên hết mọi chuyện vừa xảy ra.
Ta ngồi xuống ghế, cầm nửa quả lê lên, cắn một miếng.
Hơi khô rồi.
Nhưng vẫn ngọt.
Tang Quả đứng bên cạnh nhìn ta, rốt cuộc không nhịn được hỏi:
“Chủ tử, lỡ sau khi Hầu gia hồi phủ, ngài ấy cũng muốn người dọn thì sao?”
Ta nhai lê, suy nghĩ một lát.
Thẩm Hoài Tự.
Vị phu quân trên danh nghĩa ba năm chưa từng gặp mặt ấy, trong trí nhớ nguyên thân là một bóng lưng xa lạ. Hắn lạnh lùng, ít nói, trọng quân vụ hơn hậu trạch. Có lẽ trong mắt hắn, dời một trắc thất khỏi một cái viện chỉ là chuyện nhỏ như đổi chỗ đặt một cây thương.
Nhưng đối với ta, Tùng La Viện không phải chuyện nhỏ.
Đây là nhà dưỡng lão của ta.
Ta chậm rãi nuốt miếng lê xuống, nói:
“Nếu Hầu gia cũng muốn ta dọn, vậy càng tốt.”
Tang Quả sửng sốt:
“Tốt ạ?”
Ta gật đầu:
“Lão phu nhân chỉ có thể nói tình cảm, Hầu gia lại có thể ký văn thư và xuất bạc.”
Tang Quả: “…”
Nàng nhìn ta hồi lâu, cuối cùng lặng lẽ đặt hộp gỗ lên bàn.
Ta vuốt nhẹ nắp hộp, cảm thấy trong lòng yên ổn hơn nhiều.
Người đời nói nữ tử trong hậu trạch muốn sống tốt, phải có sủng ái, có con nối dõi, có nhà mẹ đẻ chống lưng.
Ta không có mấy thứ ấy.
Nhưng ta có văn thư.
Có sổ sách.
Có khế thợ mộc.
Có chứng từ sửa viện.
Tuy nghe không lãng mạn lắm, nhưng rất thực dụng.
Ta quay đầu nhìn chiếc ghế nằm dưới gốc lê.
Ba tháng qua, ta nằm trên đó phơi nắng, ăn lê, ngủ trưa, nghe mưa, nhìn Tang Quả bắt sâu trên cây, nghe Diệp Tĩnh Xu thỉnh thoảng ghé qua nói vài câu chuyện trong phủ.
Ta không muốn tranh giành tình cảm với ai.
Càng không muốn làm nữ nhân vì một nam nhân mà đấu đến đầu rơi máu chảy.
Nhưng nếu ai muốn lấy chỗ nằm của ta đi dỗ dành ân nhân của hắn, vậy xin lỗi.
Ta không đồng ý.
Ta đặt nửa quả lê xuống, nghiêm túc nói với Tang Quả:
“Nhớ kỹ, sau này ai động đến ghế này, trước tiên đừng khóc.”
Tang Quả ngơ ngác hỏi:
“Vậy phải làm gì ạ?”
Ta vỗ nhẹ lên hộp gỗ bên cạnh.
“Lấy hộp văn thư.”