Cú Kêu Ba Tiếng
Trời Đông Phù hôm ấy âm u từ sáng.
Không mưa, nhưng mây thấp đến mức tưởng chỉ cần trèo lên ngọn tre đầu đình là có thể chạm tay vào. Gió từ ngoài sông thổi qua bờ tre, luồn vào từng mái rạ, từng bờ rào dâm bụt, nghe không giống tiếng gió mà giống tiếng người thở dài trong cổ họng.
Từ đầu làng đến cuối xóm, chẳng nhà nào mở cửa toang như mọi ngày. Người đi chợ cũng lặng lẽ hơn, nói chuyện toàn ghé tai. Đám trẻ con bị người lớn giữ trong nhà, không cho chạy ra bờ ao, không cho bén mảng đến đường sau miếu.
Bởi từ sáng sớm, đã có chim cú đậu trên mái Miếu Trấn.
Giữa ban ngày ban mặt.
Nó đứng trên mỏm ngói vỡ, đầu quay về phía nhà ông Chánh Lự, đôi mắt vàng đục mở trừng trừng. Người trong làng đi ngang qua đều cúi đầu bước nhanh. Có bà cụ run tay làm rơi cả xấp lá trầu, miệng lẩm bẩm:
“Không lành rồi… chim đêm mà đậu ban ngày, oán chưa tan đâu…”
Ao sen sau vườn nhà ông Chánh đen ngòm. Mặt ao phẳng lặng đến lạ. Không một con cá quẫy. Không một con chuồn chuồn đậu. Những lá sen úa rũ xuống, dính sát mặt nước như bàn tay người chết úp lên bùn.
Từ sau khi đào Miếu Trấn lên, dân làng Đông Phù không còn tin lời ông Chánh nữa.
Cái nồi đồng, chum men, rượu ủ và giấy tờ giả vốn định chôn sau nhà họ Phạm, sáng qua lại nằm ngay trước cổng nhà ông Chánh. Lá thư cũ của bà Hai Duyên đã được thầy đồ San đọc trước mặt mọi người. Dưới nền miếu, người ta đào được mảnh chiếu mục, mớ tóc dài, áo trắng, vòng bạc khắc chữ Duyên, cùng cái hộp gỗ đựng giấy nợ giả.
Nếu chỉ một chuyện, người ta còn có thể bảo trùng hợp.
Nhưng nhiều chuyện chồng lên nhau như thế, lại có tiếng trẻ con khóc trong căn nhà không có trẻ sơ sinh, có dấu tay nhỏ trên nồi đồng, có lão Hương Tập lảm nhảm “tôi chỉ đứng canh cửa”, có Cai Lộc nửa tỉnh nửa mê nói “bà ấy còn thở”…
Thì còn ai dám bảo đó là chuyện vu khống?
Qua giờ Thìn, dân làng bắt đầu kéo đến trước sân nhà ông Chánh Lự.
Ban đầu chỉ có người họ Phạm ở xóm Bến. Sau đó là người các họ khác. Rồi đến mấy ông bô lão, lý dịch, trưởng họ, cả những người từng mất ruộng nhiều năm trước cũng chống gậy đến. Họ không hô hào, không đập phá. Chỉ đứng kín ngoài cổng, lặng lẽ nhìn vào căn nhà ba gian hai chái như nhìn một cái miệng giếng sâu đang che giấu xác người.
Đội Khải đứng trước sân, áo nâu sẫm, mặt trầm lại.
Bên cạnh hắn là thầy đồ San, tay ôm ống tre đựng lá thư cũ. Thầy đồ già đi nhiều chỉ sau một đêm. Râu tóc rối, mắt đỏ, nhưng lưng đã thẳng hơn hôm trước.
Lý dịch đứng cách đó một đoạn, mặt khó xử. Hắn từng sợ ông Chánh Lự, nhưng dân làng đã đông thế này, lại có vật chứng, hắn không dám giả câm.
Ông Chánh Lự từ trong nhà bước ra.
Ông vẫn cố giữ dáng vẻ như mọi ngày. Áo dài nâu sẫm, khăn vấn ngay ngắn, tay chống gậy. Nhưng ai tinh mắt đều thấy quầng mắt ông thâm đen, môi khô nứt, hai bàn tay nắm gậy chặt đến mức nổi gân.
Đêm qua, trong buồng cũ của bà Hai Duyên, ông đã nghe tiếng võng kẽo kẹt đến gần sáng.
Gia nhân hỏi thì ông không nói. Chỉ sáng ra, trên vạt áo ngủ của ông có mấy vệt bùn khô, còn dưới chân giường có dấu chân trẻ nhỏ bằng máu nhạt, lau đến ba lần vẫn còn vệt hồng.
Nhưng trước mặt dân làng, ông vẫn là ông Chánh Lự.
Ông nhìn đám đông, giọng lạnh:
“Các người kéo đến nhà ta làm gì? Đông như đi hội, hay muốn làm loạn?”
Không ai đáp ngay.
Đội Khải bước lên một bước, chắp tay.
“Ông Chánh, việc hôm qua chưa rõ, dân làng đến để hỏi một lời công đạo.”
Ông Chánh cười gằn.
“Công đạo? Công đạo là để quan xử, không phải để đám dân quê kéo đến trước cửa nhà người có chức mà gào.”
Đội Khải vẫn bình tĩnh:
“Vậy xin ông giải thích vài việc. Vì sao tang vật vu oan họ Phạm lại nằm trước cổng nhà ông? Vì sao thư bà Hai Duyên nói nếu mất tích thì tìm ở Miếu Trấn? Vì sao dưới nền miếu lại có vòng bạc khắc tên bà ấy, áo trắng, mảnh chiếu và sổ nợ giả? Vì sao Cai Lộc và lão Hương Tập liên tục nhắc đến đêm bà Duyên chết?”
Mỗi câu hỏi rơi xuống sân gạch như một viên đá ném vào giếng.
Ông Chánh Lự không đổi sắc, nhưng tay cầm gậy siết chặt hơn.
“Đội Khải, anh giỏi lắm. Trước muốn chống lại ta, nay lại muốn dùng chuyện ma quỷ để vu vạ. Tang vật có thể do người khác đem đến. Lá thư có thể giả. Đồ dưới miếu ai biết chôn từ bao giờ? Còn lũ người sợ bóng sợ gió kia nói nhảm, anh cũng đem ra làm chứng được sao?”
Thầy đồ San run giọng:
“Ông Chánh, chữ trong thư là chữ bà Hai Duyên. Năm xưa chính tôi…”
Ông Chánh quay ngoắt sang.
“Thầy San, ông nghèo đến mức phải đem người chết ra bán à?”
Mặt thầy đồ trắng bệch.
Đội Khải chắn trước ông, giọng nặng xuống:
“Người chết nếu không có oan, ai dám lấy tên họ ra bán? Ông Chánh, chuyện này không phải chỉ có một lá thư. Còn có sổ nợ giả. Còn có những người bị ép điểm chỉ. Còn có ruộng đất mấy nhà bỗng rơi vào tay các ông năm đó.”
Trong đám đông có người bật khóc.
Một người đàn ông trung niên run run bước lên:
“Trong sổ ấy có tên cha tôi. Năm đó nhà tôi không nợ bạc. Cha tôi không biết chữ, bị ép lăn tay, sau mất cả mẫu ruộng sát sông. Ông Chánh bảo cha tôi vay tiền không trả. Cha tôi uất quá mà chết.”
Một người khác cũng nói:
“Nhà tôi cũng vậy. Mẹ tôi khóc trước sân đình ba ngày, không ai nghe.”
Tiếng xì xào dâng lên như nước lũ.
Ông Chánh đập gậy xuống sân.
“Im hết!”
Tiếng gậy vang lên khô khốc.
Nhưng lần này, dân làng không còn cúi đầu ngay như trước.
Đúng lúc ấy, trong góc hiên, Cai Lộc bỗng bật ra một tiếng rên.
Hắn bị trói ngồi dưới chân cột từ sáng, do đêm qua định bỏ chạy mấy lần. Mặt hắn hốc hác, cổ tay vẫn còn ba vết cào sưng đỏ, môi tím tái như người bị rét.
Từ lúc dân kéo đến, hắn cứ bịt tai, người lắc lư, miệng lẩm bẩm:
“Đừng khóc nữa… đừng khóc nữa…”
Bây giờ hắn bỗng ngẩng phắt đầu lên.
Mắt hắn nhìn trừng trừng về phía gian buồng sau.
Rồi hắn bật khóc.
Một gã đàn ông vũ phu như hắn, từng đánh dân làng đến gãy răng, vậy mà lúc ấy khóc như đứa trẻ.
“Đừng gọi nữa… tôi khai… tôi khai…”
Ông Chánh biến sắc.
“Bịt miệng nó lại!”
Nhưng dân làng đã xô tới. Đội Khải giơ tay ngăn người của ông Chánh.
“Để hắn nói.”
Cai Lộc quỳ sụp xuống sân, đầu dập mạnh xuống nền gạch.
“Là thật… là thật hết…”
Lão Hương Tập nghe vậy thì rên lên một tiếng.
Bá hộ Nhâm đứng bên rìa đám đông, mặt xám ngoét, toan lùi đi.
Cai Lộc run lẩy bẩy, vừa khóc vừa nói:
“Năm ấy bà Hai Duyên biết chuyện… biết ông Chánh với bọn tôi làm giấy nợ giả, ép mấy nhà nghèo bán ruộng. Bà ấy tìm thầy San viết đơn. Ông Chánh biết được…”
Giọng hắn nghẹn lại.
Dân làng im lặng nghe.
Cai Lộc đưa tay ôm đầu:
“Đêm ấy mưa lớn. Bà ấy bị bắt nhốt trong buồng sau. Bà ấy bụng đã lớn lắm rồi. Bà ấy khóc, nói đứa bé không có tội. Bà ấy xin ông Chánh tha cho con…”
Ông Chánh gầm lên:
“Cai Lộc!”
Cai Lộc giật bắn, nhưng rồi lại khóc to hơn, như không còn tự chủ được.
“Lão Hương Tập đứng canh ngoài cửa. Bá hộ Nhâm nói nếu để bà ấy sống thì tất cả đều chết. Ông Chánh… ông Chánh bóp cổ bà ấy…”
Đám đông rùng lên.
Lão Hương Tập bỗng ôm đầu, hét:
“Tôi không bóp! Tôi không bóp cổ! Tôi chỉ đứng canh cửa thôi!”
Cai Lộc quay sang lão, mắt đỏ ngầu:
“Ông đứng canh! Ông nghe bà ấy kêu mà ông không mở cửa!”
Lão Hương Tập ngã quỵ xuống, hai tay bịt tai. Miệng lão sùi bọt trắng, mắt trợn lên, cứ lặp đi lặp lại:
“Canh cửa có lạnh không… đừng hỏi tôi… đừng hỏi tôi…”
Cai Lộc lại dập đầu xuống sân.
“Bà ấy còn thở khi chúng tôi khiêng ra miếu. Tôi nghe thấy. Tôi có nghe thấy. Trong bụng bà ấy… có tiếng động. Tôi bảo ông Chánh hay là thôi. Ông ấy nói chôn sâu vào, qua một đêm thì thứ gì cũng im.”
Hắn khóc đến khàn giọng:
“Tôi không bóp cổ… tôi chỉ khiêng… tôi chỉ khiêng thôi…”
Không ai trong sân nói nổi.
Một bà cụ quỳ xuống, chắp tay về phía Miếu Trấn:
“Nam mô A Di Đà Phật… mẹ con người ta…”
Thầy đồ San lấy tay áo lau mặt, nước mắt chảy không ngừng.
Đội Khải quay sang ông Chánh Lự, giọng trầm:
“Ông còn gì để nói?”
Ông Chánh đứng giữa sân.
Gió thổi qua, áo ông lay nhẹ. Trên mái nhà, mấy con quạ đập cánh nhưng không bay.
Bá hộ Nhâm lặng lẽ xoay người định lẩn ra cổng sau. Nhưng hắn vừa bước được mấy bước thì bỗng ôm cổ.
“Khụ… khụ…”
Mặt hắn tím lại. Hai mắt trợn trừng. Hắn cố há miệng thở nhưng như có bàn tay vô hình bóp chặt cuống họng.
Người bên cạnh đỡ hắn dậy, lập tức hét lên.
Hai chân Bá hộ Nhâm dính đầy bùn đen.
Bùn bám từ mắt cá lên tận đầu gối, ướt nhớp, tanh nồng, dù hắn đang đứng trên sân gạch khô ráo.
Bá hộ Nhâm run rẩy nhìn xuống chân mình.
Trong lớp bùn ấy có vài sợi tóc dài quấn quanh cổ chân hắn.
Hắn hét lên, ngã vật xuống sân.
Từ đó về sau, người ta nói Bá hộ Nhâm không chết ngay hôm ấy, nhưng chỉ mấy tháng sau, ruộng đất hắn lần lượt bị kiện lại. Hắn phát điên, đêm nào cũng ngồi bên chum nước, vừa gỡ tóc khỏi chân vừa khóc. Nhưng đó là chuyện sau.
Còn lúc ấy, mọi ánh mắt đều đổ dồn vào ông Chánh.
Ông Chánh Lự bỗng bật cười.
Tiếng cười của ông khàn khàn, càng cười càng méo mó.
“Các người tin lời một thằng điên? Tin mấy tờ giấy mục? Tin vài món đồ chôn dưới miếu? Các người muốn hại ta thì cứ nói thẳng. Còn bày trò ma quỷ làm gì?”
Ông chỉ tay vào Cai Lộc.
“Nó bị ma nhập! Nó sợ quá nên nói bậy!”
Ông chỉ sang thầy đồ San.
“Lão thầy đồ nghèo này dựng chuyện để dựa họ Phạm!”
Rồi ông chỉ thẳng vào Đội Khải.
“Còn anh, Đội Khải, anh muốn lật ta để họ Phạm ngồi lên đầu cả làng!”
Đội Khải lạnh giọng:
“Ông Chánh, người chết không tranh ruộng với ông. Đứa bé chưa ra đời cũng không tranh quyền với ông. Nhưng ông vẫn không tha.”
Mặt ông Chánh co giật.
Ông gầm lên:
“Người sống còn chẳng làm gì được tao, mấy nắm xương mục thì làm được gì?”
Câu ấy vừa thốt ra, không khí trong sân bỗng lạnh hẳn.
Gió ngừng.
Lá cau đứng im.
Đám chim trên mái nhà cũng không kêu nữa.
Một tiếng cú vang lên từ Miếu Trấn.
“Cúc…”
Dân làng đồng loạt quay đầu.
Con cú trên mái miếu vẫn đứng đó, đôi mắt vàng nhìn thẳng vào sân nhà ông Chánh.
Tiếng thứ hai vang lên.
“Cúc…”
Toàn bộ đèn dầu trong sân phụt tắt.
Mấy người đàn bà hét lên. Trẻ con khóc ré. Nhưng không ai chạy nổi. Chân người nào cũng như bị khí lạnh ghì xuống nền đất.
Tiếng thứ ba vang lên.
“Cúc…”
Ao sen sau vườn nổi bọt.
Không phải một đám nhỏ như mấy hôm trước.
Cả mặt ao sôi lên ùng ục, bọt trắng lẫn bùn đen trào vào mép bờ. Mùi bùn tanh, mùi nhang lạnh và mùi áo quần ngâm lâu dưới nước lùa qua vườn cau, tràn vào sân.
Rồi trong gió, có tiếng ru con.
“Ầu ơ…”
Ban đầu xa lắm.
Như từ dưới ao vọng lên.
Rồi gần hơn.
Như đi qua vườn cau.
Rồi gần đến mức ai cũng nghe thấy ngay sau lưng.
“Ầu ơ… ngủ đi con…”
Không ai dám thở mạnh.
Ở cuối sân gạch, phía cửa hậu, thấp thoáng một vệt trắng.
Một người đàn bà đứng đó.
Áo trắng ướt bết vào người. Tóc dài rũ xuống. Bụng nàng nhô cao, nhưng trong vòng tay lại như đang ôm một bọc vải nhỏ. Bọc vải ấy trắng nhợt, nhỏ đến đáng thương, áp sát vào ngực nàng.
Không ai nhìn rõ mặt nàng.
Nhưng tất cả đều biết đó là ai.
Bà Hai Duyên.
Có người quỳ xuống trước.
Rồi người thứ hai.
Rồi cả đám đông như bị một sức nặng vô hình đè xuống, lần lượt quỳ trên sân gạch.
Thầy đồ San quỳ sụp, khóc nghẹn:
“Bà Hai Duyên… nếu có oan, nay người sống đã nghe thấy rồi. Tôi hèn nhát, tôi có lỗi với bà. Nhưng hôm nay tên bà đã được gọi rồi…”
Bóng người đàn bà không đáp.
Nàng chỉ đứng đó.
Lặng lẽ.
Bọc vải nhỏ trong tay nàng không động, nhưng từ trong sân, người ta vẫn nghe tiếng trẻ con khóc khe khẽ.
Ông Chánh Lự lùi lại một bước.
Rồi thêm một bước.
Gương mặt ông lần đầu lộ ra vẻ sợ hãi thật sự.
“Không… không thể…”
Bóng người đàn bà chậm rãi ngẩng đầu.
Mái tóc ướt tách ra một chút.
Ông Chánh hét lên, quay người bỏ chạy vào gian thờ.
Cửa gian thờ vốn đang mở.
Nhưng khi ông vừa lao vào, hai cánh cửa gỗ bỗng đóng sập lại.
Rầm!
Tiếng đóng cửa vang như sấm.
Gia nhân và dân làng kinh hãi đứng bật dậy. Có người muốn chạy đến kéo cửa, nhưng Đội Khải giơ tay ngăn một nhịp.
Từ bên trong gian thờ vang lên tiếng ông Chánh đập cửa.
“Mở ra! Mở cửa! Mở ra cho ta!”
Rồi tiếng đập chuyển thành tiếng cào.
Cào lên gỗ.
Cào lên vách.
Két… két…
Xen lẫn trong đó là tiếng võng kẽo kẹt.
Kẽo kẹt.
Kẽo kẹt.
Tiếng ấy vốn từ buồng sau, vậy mà giờ lại vang ngay trong gian thờ.
Rồi tiếng trẻ con khóc.
“Oe… oe…”
Sau cùng là tiếng đàn bà ru con.
Rất gần.
Gần như nằm sát sau cánh cửa.
“Ầu ơ…”
Bên trong, ông Chánh Lự hét lên một tiếng thê thảm.
Tiếng hét ấy kéo dài đến mức người nghe nổi gai khắp người. Rồi đột ngột tắt.
Cả căn nhà im phăng phắc.
Mấy con quạ trên mái đồng loạt bay vụt lên, kêu loạn xạ.
Đội Khải lúc này mới hô:
“Phá cửa!”
Mấy trai tráng cầm gậy, cầm đòn tre lao tới. Cánh cửa gian thờ bị đóng chặt như có người chèn từ trong. Đập mấy lần không mở. Đến lần thứ bảy, cửa bật tung.
Mùi bùn tanh xộc ra khiến ai đứng gần cũng phải lùi lại.
Trong gian thờ, đèn dầu đã tắt sạch.
Ánh sáng ngoài sân hắt vào mờ mờ, đủ để thấy ông Chánh Lự nằm dưới chân án thờ.
Mắt ông trợn ngược.
Miệng há ra nhưng không còn tiếng.
Hai tay ông bấu chặt lấy cổ mình, móng tay cắm vào da đến bật máu, như chính ông đã tự bóp cổ cho đến chết.
Chân ông dính đầy bùn ao.
Từ cửa hậu, một vệt nước đen kéo dài vào gian thờ, vòng quanh xác ông rồi dừng trước án.
Trên mặt án thờ, ngay dưới bài vị tổ tiên, có một dòng chữ viết bằng bùn đen.
Nét chữ méo mó, nhưng rõ ràng từng chữ:
“Trả tên cho mẹ con ta.”
Không ai dám bước vào ngay.
Thầy đồ San quỳ xuống trước cửa, khóc không thành tiếng.
Đội Khải chắp tay, cúi đầu thật sâu về phía Miếu Trấn.
Còn ngoài sân, bóng người đàn bà áo trắng đã biến mất tự lúc nào.
Chỉ còn mùi nhang lạnh thoảng trong gió.
Sau cái chết của ông Chánh Lự, chuyện không thể che được nữa.
Lý dịch trong làng lập tức cho người trình lên quan huyện. Quan huyện về Đông Phù trong vòng ba ngày, mang theo lính lệ và thư lại. Lần ấy, người làng kéo đến đông chưa từng có.
Bằng chứng được bày ra từng món:
Cai Lộc sau khi khai xong thì gần như thành kẻ mất hồn. Hỏi gì hắn cũng đáp, nhưng cứ nghe tiếng trẻ con khóc đâu đó là ôm đầu quỳ xuống. Hắn khai rõ đêm bà Hai Duyên chết, lão Hương Tập đứng canh, Bá hộ Nhâm khuyên diệt khẩu, ông Chánh là người ra tay, còn hắn cùng hai tên gia nhân khiêng người ra miếu.
Lão Hương Tập chưa kịp bị giải lên huyện thì đã hóa điên. Suốt ngày lão ngồi co ro trong góc, tay bịt tai, miệng lặp:
“Canh cửa lạnh lắm… mở cửa đi… mở cửa đi…”
Bá hộ Nhâm bị kê biên lại ruộng đất có liên quan đến giấy nợ giả. Những nhà từng bị ép bán ruộng bắt đầu được xét lại. Hắn sống thêm ít lâu, nhưng người ta nói đêm nào cũng thấy hắn ngồi trước chum nước rửa chân, rửa mãi không sạch bùn.
Họ Phạm được giải oan.
Cái tội nấu rượu lậu, trốn thuế, chứa hàng cấm chưa kịp đội lên đầu Đội Khải đã bị lật ngay trước mặt dân làng. Quan huyện cũng không thể làm ngơ, vì vật chứng và lời khai quá nhiều, mà người chết trong nhà ông Chánh lại quá quái lạ.
Một số ruộng bị cướp năm xưa được xét lại. Có nhà lấy lại được ruộng. Có nhà người mất đã lâu, con cháu chỉ còn biết cầm giấy mà khóc trước đình.
Nhưng việc đầu tiên dân làng Đông Phù làm không phải chia ruộng.
Mà là sửa lại Miếu Trấn.
Cả làng góp gạch, góp ngói, góp tre. Người có tiền góp tiền. Người không có tiền góp công. Đội Khải tự tay đắp lại nền miếu. Thầy đồ San viết lại bài vị. Những mảnh di vật của bà Hai Duyên được chôn cất tử tế ở gò đất cạnh miếu, nơi cao ráo nhìn ra ao sen.
Trên bài vị mới, thầy đồ San run tay viết từng chữ:
Trần Thị Duyên cùng hài nhi vô danh.
Viết xong, ông đặt bút xuống, quỳ trước bài vị rất lâu.
“Bà Hai, lần này tên bà đã được gọi rồi.”
Cậu Bảy Thận cũng đến.
Sau cái chết của ông Chánh, cậu bệnh một trận nặng. Khi khỏi, người gầy đi nhiều, mắt trầm xuống như đã già thêm mấy tuổi. Cậu không ở lại nhà cũ nữa. Trước khi rời Đông Phù, cậu đem một phần ruộng hương hỏa cúng cho Miếu Trấn, lại xin người làng hằng năm thắp hương cho mẹ con bà Duyên.
Có người hỏi cậu có sợ không.
Cậu Bảy nhìn miếu mới, khẽ nói:
“Sợ người sống hơn.”
Nhà ông Chánh Lự từ đó suy tàn.
Cổng gỗ lim đóng rêu. Sân gạch nứt. Vườn cau đổ dần sau mấy trận bão. Con cháu tản mác, người đi tỉnh, người bán đất, người đổi họ mà sống. Không ai còn muốn nhắc đến cái tên Nguyễn Văn Lự nữa.
Lạ thay, từ ngày Miếu Trấn được lập lại hương khói, ao sen sau vườn dần trong.
Năm sau, sen nở trắng cả một góc ao.
Hoa trắng, cánh mỏng, hương nhẹ. Đêm xuống, mặt ao không còn đen đặc như trước. Cá nhỏ bắt đầu quẫy dưới lá sen. Có người bảo từng thấy một đứa trẻ con đứng bên mép ao, cười khanh khách rồi biến mất trong sương. Nhưng lời ấy chẳng ai kiểm chứng.
Nhiều năm trôi qua, người làng Đông Phù vẫn kể lại chuyện ấy.
Họ kể về ông Chánh Lự giàu sang nhưng chết trước án thờ.
Kể về bà Hai Duyên bị vu là bỏ trốn, cuối cùng được trả lại tên.
Kể về đứa trẻ chưa kịp chào đời, mãi đến sau khi chết mới có bài vị.
Kể về cái nồi đồng dính dấu tay nhỏ.
Kể về chiếc võng trong buồng cũ cứ kẽo kẹt đến tận đêm ông Chánh tắt thở.
Những đêm trăng nhạt, đôi khi sau Miếu Trấn vẫn có tiếng ru con vọng ra.
Nhưng tiếng ru ấy không còn oán hận như trước.
Nó buồn.
Buồn như gió lùa qua đồng chiêm sau mùa gặt. Buồn như tiếng người mẹ ru một đứa con đã ngủ rất lâu dưới đất lạnh.
Chỉ riêng tiếng cú sau miếu, người làng vẫn kiêng.
Người già dặn trẻ nhỏ rằng, nếu đêm khuya nghe cú kêu thì đừng réo tên ai. Đừng cười. Đừng ném đá lên mái miếu. Càng đừng nhắc đến chuyện người chết khi trong lòng còn giấu điều thất đức.
Bởi ở Đông Phù, ai cũng biết một câu:
“Cú kêu sau miếu không gọi người lương thiện. Nó chỉ gọi kẻ còn nợ máu chưa trả.”