Mưu Đất Dưới Ánh Đèn Dầu
Dân làng Đông Phù vẫn truyền miệng với nhau rằng, cứ vào những đêm trăng nhạt như nước vo gạo, hoặc những hôm trời nặng hơi sương, gió thổi qua bờ tre nghe lành lạnh như tiếng người thở, sau Miếu Trấn lại vang lên tiếng cú kêu.
Tiếng cú ấy không giống tiếng chim thường.
Nó khàn, ngắn, nghe như có ai dùng móng tay cào lên cổ họng rồi bật ra từng tiếng một.
Cứ sau tiếng cú ấy, trong căn nhà cũ của ông Chánh Lự sẽ có bóng một người đàn bà xuất hiện.
Người đàn bà ấy mặc áo trắng, tóc xõa, bụng lùm lùm như đang mang thai. Có người nói từng thấy bà ta đứng giữa sân gạch, hai chân trần ướt sũng, nhìn chằm chằm vào gian thờ. Có người lại nói bà ta không đứng, mà cứ đi chậm rãi từ cửa hậu vào, để lại sau lưng từng vệt bùn đen như bùn dưới đáy ao.
Nhưng hễ có ai lấy hết can đảm gọi lên một tiếng, bóng ấy lại thoắt cái biến mất về phía ao sen sau vườn cau.
Dân làng đồn nhiều, nhưng chẳng ai dám bén mảng vào xem thật giả. Nhất là từ sau cái chết kinh hoàng của ông Chánh Lự đúng một năm trước.
Người già trong làng bảo, nhà ấy không phải tự nhiên mà lạnh. Đất nhà ấy vốn có oán, mà oán thì khác với ma. Ma đôi khi chỉ dọa người. Còn oán thì biết nhớ nợ.
Muốn hiểu vì sao đêm đêm tiếng cú còn kêu sau miếu, vì sao bóng đàn bà áo trắng ấy cứ trở về căn nhà ba gian hai chái kia, phải quay lại một năm trước.
Khi ấy, ông Chánh Lự còn sống.
Làng Đông Phù khi đó vẫn là một làng cổ ven sông. Cổng làng xây gạch đã rêu phong, mùa nồm thì trơn như bôi mỡ, trẻ con đi qua phải bám lấy vách mà lần. Đầu đình có cây đa già, rễ phụ thả xuống như những sợi râu xám. Xa hơn nữa là bến nước, sáng nào cũng phủ một lớp sương mỏng, mấy chiếc thuyền nan úp bụng nằm im lìm bên mép bùn.
Ruộng chiêm quanh làng trũng nước. Đêm xuống, hơi đất bốc lên, quyện với mùi bèo, mùi rơm mục, mùi bùn non từ bờ sông thổi vào, khiến cả làng như chìm trong một thứ hơi lạnh âm âm.
Nhưng bên trong nhà ông Chánh Lự đêm ấy lại sáng rực đèn dầu.
Nhà ông Chánh nằm ở cuối con đường lát gạch nghiêng, cách đình làng không xa. Cổng gỗ lim cao quá đầu người, hai bên trồng cau thẳng tắp. Sân trước lát gạch Bát Tràng cũ, mùa khô thì đỏ au, mùa mưa lại sậm màu như máu đông. Nhà chính ba gian hai chái, cột lim đen bóng, sập gụ đặt giữa gian khách, bên trên bày bộ ấm chén men rạn và cái điếu bát lúc nào cũng có người hầu châm thuốc.
Sau nhà là một vườn cau um tùm, đi hết vườn thì gặp ao sen. Ao ấy ban ngày nhìn cũng bình thường, sen mọc kín mặt, mùa hạ nở hoa trắng, hương thơm đưa vào tận hiên. Nhưng cứ đến tối, mặt ao lại đen sẫm, nhìn lâu tưởng như không phải nước, mà là một tấm vải đen phủ kín thứ gì bên dưới.
Sát mép ao có một ngôi miếu nhỏ, dân làng gọi là Miếu Trấn.
Ngày trước còn có người đến thắp hương. Từ khi đất sau vườn bị nhập vào nhà ông Chánh, miếu bỏ hoang. Mái ngói sụp một góc, tượng Bà bên trong nứt nửa mặt, cửa miếu lệch bản lề, đêm có gió là kêu cọt kẹt như tiếng người nghiến răng.
Đêm ấy, trăng treo mờ mờ trên đầu ngọn cau.
Trong nhà chính, ông Chánh Lự ngồi xếp bằng trên sập, tay cầm mấy quân bài tam cúc, mắt híp lại nhìn đống bạc vụn và tiền đồng giữa chiếu.
Ông tuổi ngoài năm mươi, người đẫy đà, mặt vuông, mày rậm. Khi cười, hai má nhăn lại, trông tưởng hiền hòa. Nhưng ai từng phải quỳ trước sân nhà ông xin khất sưu khất thuế đều biết, cái cười ấy không ấm hơn lưỡi dao là bao.
Ngồi quanh sập còn có ba người.
Một là lão Hương Tập, hương chức già trong làng, râu lưa thưa, miệng lúc nào cũng ngậm khói thuốc lào, nói chuyện hay nhướng mắt như thể người khác sinh ra chỉ để nghe lão sai bảo.
Hai là Bá hộ Nhâm, người béo trắng, ngón tay đeo nhẫn bạc, áo the thơm mùi long não. Hắn không nói nhiều, nhưng mỗi câu thốt ra đều nhắm đúng chỗ lợi.
Ba là Cai Kiểm Soát Lộc, thường gọi Cai Lộc. Hắn ngoài ba mươi, vai rộng, mặt rỗ, mắt nhỏ mà dữ. Trong làng, ai bị bắt sưu hay bị đánh ở sân đình, phần nhiều đều qua tay hắn.
Mùi dầu lạc cháy trong đèn quyện với mùi thuốc lào, mùi trà đặc, mùi cau non từ vườn sau thổi vào, làm gian nhà sáng mà vẫn nặng. Ngoài sân, tiếng dế kêu rỉ rả. Xa xa, có tiếng chó sủa rồi im bặt.
Ông Chánh Lự chậm rãi đặt bài xuống chiếu.
“Tam cúc.”
Lão Hương Tập nhìn bài, nhăn mặt.
Bá hộ Nhâm thở ra một tiếng.
Cai Lộc gãi cằm, chửi nhỏ:
“Lại thua nữa rồi.”
Ông Chánh bật cười khanh khách, đưa tay gom hết bạc về phía mình.
“Đêm nay các ông đem tiền đến sưởi ấm nhà tôi hay sao? Từ đầu canh đến giờ, tôi ăn không biết mấy ván rồi.”
Lão Hương Tập phì một hơi thuốc, nói giọng nửa nịnh nửa than:
“Ông Chánh đỏ tay quá, bọn tôi đỡ sao nổi. Cái số ông đã ngồi chiếu trên thì bài cũng tự biết đường chạy về tay.”
Ông Chánh nghe vậy càng cười lớn.
Bá hộ Nhâm nâng chén trà, nhấp một ngụm rồi đặt xuống. Hắn đưa mắt nhìn lão Hương Tập, lại nhìn Cai Lộc. Cái nhìn ấy không qua được mắt ông Chánh.
Ông Chánh cầm điếu thuốc rê, đẩy lệch sang khóe miệng.
“Các ông sang đây chắc không phải chỉ vì mấy quân bài với chén trà. Có việc gì thì nói đi. Đêm dài nhưng tai vách mạch rừng, nói sớm rồi về sớm.”
Lão Hương Tập ho khan.
Bá hộ Nhâm chắp tay, giọng thấp xuống:
“Đúng là không gì qua mắt được ông Chánh. Thú thật, bọn tôi vẫn đau đáu chuyện họ Phạm ở xóm Bến.”
Ông Chánh rít thuốc một hơi, khói trắng lững lờ trước mặt.
“Đội Khải?”
Cai Lộc lập tức gật đầu.
“Chính hắn. Ông Chánh nghĩ mà xem, dạo này dân làng có việc gì cũng chạy sang hỏi hắn. Đê vỡ thì gọi hắn, chia nước ruộng cũng gọi hắn, đến chuyện đóng góp sửa đình cũng có người bảo nghe Đội Khải nói đã. Cứ đà này, mấy ông hương chức như chúng ta còn mặt mũi nào?”
Lão Hương Tập chen vào:
“Không chỉ thế. Họ Phạm mấy năm nay tậu thêm ruộng chiêm ven sông. Ruộng ấy tốt lắm, một vụ bằng hai vụ chỗ khác. Dân nghèo được hắn cho vay thóc giống, đến mùa lại biết ơn hắn. Lòng dân nghiêng hết về xóm Bến rồi.”
Bá hộ Nhâm đặt chén xuống, giọng mềm nhưng độc:
“Bốn năm nay, họ Phạm cứ lớn dần lên. Đội Khải lại không biết điều, gặp ông Chánh ngoài đình cũng chỉ chắp tay qua loa. Người như thế để lâu, e rằng có ngày nó quên mất làng Đông Phù này ai mới là người cầm cán cân.”
Ông Chánh Lự ngồi im.
Ngọn đèn dầu trên bàn khẽ lay động, soi bóng ông đổ dài lên vách gỗ. Trong một thoáng, gương mặt ông như sẫm xuống.
Nhưng rồi ông lại cười.
“Các ông nói nhiều như thế, chẳng qua là vì mấy mẫu ruộng chiêm ven sông của họ Phạm.”
Bá hộ Nhâm không ngượng, chỉ cúi đầu:
“Ruộng tốt vào tay người biết dùng thì mới sinh lợi. Để trong tay đám nhà quê cứng đầu, cũng phí.”
Cai Lộc nghiến răng:
“Đội Khải lại hay xen vào chuyện người khác. Mấy lần tôi bắt đám thiếu sưu ngoài chợ, hắn đều đứng ra nói đỡ. Hôm trước còn dám bảo tôi đánh người quá tay. Cái loại ấy không trị, sau này chắc trèo lên cả đầu ông Chánh.”
Ông Chánh gõ nhẹ tẩu thuốc xuống mép sập.
Cốc.
Âm thanh ấy không lớn, nhưng ba người kia lập tức im bặt.
Ông thong thả nói:
“Quan huyện tháng sau về khám sổ thuế, tiện dự lễ cúng đình. Việc ấy các ông biết chưa?”
Lão Hương Tập sáng mắt.
“Có nghe phong thanh.”
Ông Chánh nói tiếp:
“Đêm trước ngày quan về, đem một cái nồi đồng, vài cái chum men, mấy vò rượu ủ, thêm ít giấy tờ giả giấu sau nhà Đội Khải. Cứ chọn chỗ vườn chuối sát bờ rào. Sáng hôm sau, Cai Lộc dẫn người khám, lôi ra trước mặt quan huyện.”
Bá hộ Nhâm ngẩn ra, rồi khóe miệng từ từ nhếch lên.
Ông Chánh đưa tay nhấp trà, nói nhẹ như bàn chuyện thời tiết:
“Nấu rượu lậu, trốn thuế, chứa hàng cấm. Ba tội ấy chụp lên, Đội Khải có mười cái miệng cũng không cãi nổi. Họ Phạm mất trưởng tộc, khác gì rắn mất đầu. Lúc ấy, ruộng chiêm ven sông bán hay không bán, còn do chúng nó quyết được sao?”
Lão Hương Tập vỗ đùi đánh đét.
“Diệu kế! Quả là diệu kế!”
Cai Lộc cười hắc hắc:
“Việc giấu đồ cứ để tôi lo. Đêm hôm ấy tôi dẫn hai thằng lính lệ đi, đảm bảo không ai thấy.”
Bá hộ Nhâm cũng gật gù:
“Một mũi tên trúng hai đích. Vừa nhổ được cái gai Đội Khải, vừa khiến họ Phạm phải nhả ruộng.”
Ông Chánh đặt chén trà xuống, mắt nhìn về phía cửa hậu.
Gió từ vườn cau thổi vào, mang theo mùi lá non và một chút hơi nước lạnh lạ.
Ông hạ giọng:
“Đội Khải không chỉ có ruộng. Hắn còn quá cứng đầu. Lại biết vài chuyện không nên biết.”
Ba người kia nghe đến đây thì hơi khựng.
Lão Hương Tập đưa mắt nhìn Cai Lộc. Cai Lộc cúi xuống vê vê mép chiếu, không nói. Bá hộ Nhâm nhấp trà, nhưng chén vừa chạm môi đã đặt xuống.
Ông Chánh nhìn từng người, cười nhạt:
“Chuyện cũ qua rồi thì để nó qua. Nhưng có người cứ thích đào đất cũ lên xem dưới đó chôn gì. Cái giống người ấy, để lâu chỉ sinh họa.”
Gian nhà bỗng im.
Bên ngoài có cơn gió lùa qua hàng cau. Mấy tàu cau va vào nhau, kêu xào xạc. Âm thanh ấy nghe như tiếng áo người quét qua sân gạch.
Lão Hương Tập bỗng rùng mình, vội ngoắc thằng hầu:
“Điếu mày đâu? Châm thêm thuốc!”
Thằng hầu run run bước vào châm thuốc.
Ông Chánh quét mắt qua nó. Thằng bé cúi đầu thấp xuống, châm xong liền lui ra, không dám ngẩng lên.
Bá hộ Nhâm gượng cười:
“Ông Chánh đã tính vậy thì chúng tôi yên tâm. Chỉ cần Đội Khải ngã, họ Phạm không chống nổi đâu.”
Ông Chánh nhàn nhạt đáp:
“Ở làng này, cây nào mọc cao hơn hàng rào nhà tôi, tôi đều có cách bẻ nó xuống.”
Câu ấy nói xong, không ai dám đáp.
Bữa bài kéo thêm một tuần trà nữa rồi tàn. Gần canh hai, lão Hương Tập, Bá hộ Nhâm và Cai Lộc lần lượt đứng dậy cáo lui. Ông Chánh Lự đích thân tiễn ra tận cổng.
Sương đêm đã xuống dày.
Cổng gỗ lim mở ra, bên ngoài con đường gạch mờ mờ, hai hàng tre hai bên chỉ còn là những bóng đen chụm đầu vào nhau. Đèn lồng trong tay thằng hầu bị gió thổi nghiêng, ánh sáng chao qua chao lại trên mặt ba vị khách, làm gương mặt ai cũng như méo đi.
Ông Chánh dặn Cai Lộc:
“Việc đêm ấy phải kín. Đừng để đám trẻ chăn trâu hay mấy bà đi chợ sớm trông thấy.”
Cai Lộc vỗ ngực:
“Ông Chánh cứ yên tâm. Tôi làm việc bao năm, đã khi nào để lộ chưa?”
Ông Chánh cười nhạt:
“Lộ hay không, không phải do miệng anh nói. Là do đất có chịu im hay không.”
Cai Lộc nghe câu ấy không hiểu sao lại thấy lạnh sống lưng.
Bá hộ Nhâm vội nói lảng:
“Đêm xuống sương độc, ông Chánh vào nghỉ đi.”
Đám người khuất dần sau màn sương.
Ông Chánh đứng ở cổng thêm một lát, rồi quay vào. Khi tay ông vừa đặt lên cánh cổng để khép lại, từ phía sau vườn cau bỗng vọng đến một âm thanh rất khẽ.
“Ầu ơ…”
Ông khựng lại.
Tiếng ấy nhẹ lắm, như lẫn trong gió, như một người đàn bà đang ru con ở rất xa.
“Ầu ơ… ví dầu…”
Ông Chánh nhíu mày, quay đầu nhìn về phía vườn sau.
Đêm đặc quánh.
Hàng cau đứng im, không có bóng người. Ao sen khuất sau vườn, chỉ lộ ra một mảng tối đen.
Ông lắng tai nghe.
Không còn gì nữa.
Chỉ có tiếng dế, tiếng lá tre xào xạc ngoài đường, và một con chó nhà ai tru lên rồi tắt lịm.
Ông Chánh khép cổng lại, cười khẩy.
“Già rồi hóa nghe nhầm.”
Nói vậy, nhưng ông không vào nhà ngay.
Ông ngồi xuống bậc thềm trước gian chính, cầm điếu thuốc lào, tự tay nhồi thuốc vào nõ. Ngọn đèn lồng treo dưới mái hiên hắt ánh sáng vàng nhợt lên gương mặt ông.
Đêm sâu, người thường hay nhớ chuyện cũ.
Ông Chánh Lự cũng vậy.
Ông nhớ cái ngày mình còn là thằng Lự mồ côi, chân đất, áo rách, đứng trước từ đường họ Nguyễn mà bị chính họ hàng mình xua như xua chó. Cha mẹ chết sớm, nhà cửa bị chiếm, ruộng vườn cũng bị chia nhau sạch. Có người ném cho ông khi ấy một nắm cơm nguội, bảo:
“Cầm lấy rồi đi. Cái giống không cha không mẹ, ở lại chỉ tổ đen nhà.”
Ông khi đó mới hơn sáu tuổi.
Không biết đi đâu, ông lang thang qua mấy làng, có bữa xin được bát cháo loãng, có bữa phải bới củ chuối ăn cho qua cơn đói. Đêm xuống, ông ngủ dưới gầm cầu, trên bến sông, trong chái chợ. Có lần đói quá ngất bên đường, nếu không có một ông sư chùa nhỏ nhặt về cho bát cơm, chắc ông đã chết từ lúc ấy.
Nhưng chùa cũng không giữ được lòng ông.
Ngày ngày nghe tiếng mõ, tiếng kinh, ông chỉ thấy nhức đầu. Ông nhìn đám nhà giàu đến lễ Phật, ném vài đồng cho người ăn xin ngoài cổng, rồi ung dung bước vào trong mùi trầm hương. Còn những kẻ đói rách thì bò dưới đất nhặt tiền, tranh nhau đến chảy máu.
Từ lúc đó, trong lòng thằng bé tên Lự đã nảy ra một ý nghĩ.
Đời này, phải có tiền.
Phải có quyền.
Phải khiến người khác cúi đầu trước mình.
Năm mười bảy tuổi, ông rời chùa, quay lại Đông Phù. Nhưng trở về cũng chỉ để nhận thêm nhục. Họ hàng cũ thấy ông thì đóng cửa. Người làng nhìn ông như nhìn một con chó hoang trưởng thành, gầy nhưng dữ.
Ông không cầu xin.
Ông dựng một túp lều ngoài bến sông, làm nghề kéo lưới, gánh thuê, bốc thóc. Tiền kiếm được bao nhiêu lại bị sưu thuế, bị phạt vạ, bị đám hương chức lúc ấy vòi vĩnh. Có đêm đói quá, ông phải nhai cả củ ráy sống đến rát cổ.
Rồi một ngày, vận đổi.
Một người chú họ xa làm quan trong tỉnh tìm về. Người ấy nhận ra ông nhờ nửa miếng ngọc gia truyền ông đeo từ nhỏ. Chỉ sau một đêm, những kẻ từng chiếm nhà ông bị lôi ra sân đình. Ruộng đất trả lại. Từ đường mở cửa. Người làng trước đó khinh bỉ ông, hôm sau đã đổi sang gọi ông bằng “cậu Lự”, rồi “ông Lự”.
Kể từ đó, ông học được một điều.
Không phải đúng sai quyết định miệng đời.
Là quyền thế.
Có quyền, kẻ cướp đất cũng có thể thành người giữ lễ. Không có quyền, người giữ đạo lý cũng bị giẫm xuống bùn.
Ông dùng tiền mua ruộng.
Dùng ruộng mua người.
Dùng người mua chức.
Từ một kẻ không nhà, ông thành người giàu nhất nhì Đông Phù. Từ một đứa trẻ bị đuổi khỏi từ đường, ông thành Chánh tổng, nói một câu là cả làng phải nghe.
Nhưng càng lên cao, ông càng ghét những kẻ nghèo mà cứng cổ.
Nhất là loại như Đội Khải.
Nghèo nhưng không sợ.
Có ruộng nhưng không nịnh.
Được dân quý nhưng không biết đem lòng dân ấy dâng lên cho người cầm quyền.
Ông Chánh rít một hơi thuốc thật dài, rồi nhả khói ra màn đêm.
“Đời này, muốn sống thì phải có tiền, có quyền. Người nghèo lương thiện mấy cũng chỉ là cỏ rác cho kẻ khác giẫm.”
Ông nói một mình.
Không biết là nói cho đêm nghe, hay nói cho chính mình nghe.
Gió lại thổi qua vườn cau.
Lần này, mùi cau non không còn rõ nữa. Thay vào đó là một mùi khác.
Mùi bùn ao.
Tanh, lạnh, ngai ngái như thứ gì bị ngâm lâu dưới nước.
Ông Chánh cau mày.
Đúng lúc ấy, sau Miếu Trấn vang lên một tiếng cú.
“Cúc…”
Tiếng kêu khàn khàn, đột ngột cắt ngang màn đêm.
Ông Chánh ngẩng đầu.
Sau vườn cau vẫn tối om.
Một lát sau, tiếng cú thứ hai vang lên.
“Cúc…”
Con chó mực trong sân bỗng dựng lông, quay về phía cửa hậu mà tru dài. Tiếng tru kéo ra đến nửa chừng thì nó cụp đuôi, chui tọt xuống gầm chạn.
Ông Chánh đứng dậy.
“Đồ súc sinh.”
Nhưng chân ông chưa kịp bước vào nhà thì tiếng cú thứ ba đã vang lên.
“Cúc…”
Ngọn đèn dầu trong gian thờ phụt tắt.
Cả căn nhà tối sầm.
Thằng hầu ngủ gật ở chái bên giật mình đánh rơi cái quạt mo. Trong bóng tối, tiếng chén trên bàn khẽ rung lên lách cách.
Rồi chỉ trong một chớp mắt, ngọn đèn trong gian thờ tự sáng lại.
Ánh lửa nhỏ, xanh lét ở đầu bấc, không vàng như lúc trước.
Ông Chánh Lự đứng chết lặng một hơi.
Rồi ông quát:
“Đứa nào trong đó?”
Không ai đáp.
Ông giật lấy cây gậy dựng bên cột, sải bước vào gian thờ. Thằng hầu run lập cập chạy theo sau, tay cầm đèn lồng.
Vừa đến ngưỡng cửa, thằng hầu đã khựng lại.
Trên nền gạch đỏ có một vệt bùn đen.
Vệt bùn ấy bắt đầu từ phía cửa hậu, kéo dài qua gian giữa, vòng qua chân sập, rồi dừng ngay trước án thờ tổ tiên. Nó không giống vết chân người bình thường. Không thấy rõ bàn chân, chỉ là một đường nước bùn loang lổ, như có thứ gì ướt sũng vừa bò từ ngoài ao vào.
Mùi tanh bốc lên nồng nặc.
Trong gian thờ, nhang không ai đốt mà lại có mùi nhang lạnh.
Ông Chánh quay phắt lại nhìn thằng hầu.
“Cửa hậu ai mở?”
Thằng hầu mặt cắt không còn giọt máu.
“Bẩm ông… con vừa mới đi xem hồi chập tối, then còn cài bên trong. Từ nãy đến giờ không ai ra vào cả.”
“Đi xem lại!”
Thằng hầu suýt khuỵu chân nhưng vẫn phải chạy ra sau.
Một lúc sau nó quay lại, môi run bần bật:
“Bẩm ông… cửa hậu vẫn cài then. Không có ai mở.”
Ông Chánh siết chặt cây gậy.
Trong gian thờ, ánh đèn xanh lét lay động trên bài vị tổ tiên. Khói đèn không bay lên mà cứ quẩn quanh sát mặt án, như bị thứ gì đè xuống.
Thằng hầu nhìn vệt bùn, run giọng:
“Ông ơi… hay là… hay là…”
“Câm!”
Ông Chánh quát lớn đến mức tiếng vang đập vào vách gỗ.
“Nhà này người sống còn chẳng sợ, sợ gì người chết!”
Lời vừa dứt, trong vườn sau bỗng có tiếng gì rất khẽ.
“Ầu ơ…”
Thằng hầu ngã phịch xuống nền.
Ông Chánh xoay người nhìn ra cửa hậu.
Ngoài kia tối đen.
Chỉ có hàng cau đứng lặng, ao sen khuất sau vườn không thấy mặt nước, và mái Miếu Trấn thấp thoáng như cái lưng gù của một người đang ngồi chờ.
Ông Chánh nuốt khan, quay lại định bảo thằng hầu lau sạch vệt bùn.
Nhưng đúng lúc ấy, mắt ông chạm lên án thờ.
Bài vị tổ tiên ở giữa đã nghiêng sang một bên.
Trên mặt bài vị, không biết từ lúc nào, phủ ngang một lớp bùn đen.
Lớp bùn ấy ướt sũng, chảy chậm xuống chân bài vị thành từng dòng nhỏ.
Một giọt bùn rơi xuống mặt án.
Tách.
Tiếng ấy rất khẽ.
Nhưng trong gian thờ đang im phăng phắc, nó vang lên như tiếng ai gõ móng tay xuống nắp quan tài.
Sau miếu cũ, tiếng cú lại vang lên.
Một tiếng.
Hai tiếng.
Rồi ba tiếng.
Mùi tanh từ ao sen theo gió lùa vào, dù tất cả cửa trong nhà đều đã đóng kín.
Lạnh đến tận xương.