Lư Hương Ở Miếu
Lư Hương Ở Miếu · 📖

Nợ Đến Kỳ

Chương 3 chương Hoàn thành

Sau cái đêm chiếc chuông đồng xoay miệng về phía ông phú Khương và cất giọng khàn khàn: “Nợ đến kỳ rồi”, làng Cầu Đục bước sang một buổi sáng lạ lùng.

Trời đã sáng, nhưng không có nắng.

Mây xám đè sát xuống mái nhà, thấp đến mức người ta tưởng chỉ cần đưa tay lên là chạm vào được hơi ẩm lạnh buốt. Mưa đã ngớt, nhưng nước vẫn nhỏ từng giọt từ mái rạ, từ bờ tre, từ những tàu lá chuối rách sau vườn. Con lạch sau làng dâng cao, màu nước đục ngầu, nặng mùi bùn, trôi chậm đến nỗi trông như không chảy mà chỉ đang âm thầm phình lên.

Gió từ phía lạch thổi vào làng, mang theo mùi bùn và mùi nhang.

Cái mùi ấy lạ lắm.

Không hẳn là nhang mới thắp, cũng không hẳn là tro tàn. Nó ngai ngái, ẩm lạnh, cứ lẩn quẩn quanh những mái nhà nghèo, bám vào vạt áo người đi đường, rồi lùa thẳng về phía nhà ông phú Khương ở đầu làng.

Sáng ấy, chưa ai thắp hương ở miếu Bà Trầm.

Vậy mà bát nhang trong miếu có khói.

Khói mỏng như sợi tóc, trắng đục, từ trong bát nhang lạnh ngắt chậm rãi bò lên rồi lùa ngang qua cửa miếu. Tượng Bà Trầm vẫn khuất trong bóng tối ẩm thấp, mặt tượng mờ sau lớp khói. Dưới gốc thị già, lá rụng đầy sân. Những trái thị non rơi từ hôm trước nằm nứt nẻ trên nền đất, ruột thâm đen, nước mưa ngấm vào, rỉ ra từng vệt như bùn.

Cụ Từ Lại là người đầu tiên ra miếu.

Cụ chống gậy đi rất sớm. Đêm qua cụ không ngủ được. Từ khi thấy khói nhang của anh Lễ bay thẳng về phía nhà ông phú, lòng cụ đã thấp thỏm không yên. Gần sáng, cụ nghe trong tai như có tiếng mõ rất khẽ, từng tiếng một, đều đều, không biết vọng từ miếu hay từ trong giấc mơ.

Cụ bước qua cổng miếu, vừa nhìn xuống gốc thị thì đứng sững lại.

Đất dưới gốc thị bị đào tung.

Một hố bùn sâu ngoác ra bên rễ phụ. Dấu cuốc còn hằn rõ trên thành đất. Bùn mới bị xới lên còn ướt, đen đặc, lẫn mấy mảnh dây thừng mục. Chỗ đáng lẽ chôn hòm tiền công đức của dân làng bây giờ trống rỗng.

Cụ Từ Lại nhìn cái hố một lúc lâu.

Rồi cụ run tay đưa lên ngực.

“Họ đào thật rồi…”

Giọng cụ khàn đi.

Hòm tiền ấy là tiền dân làng góp từng đồng từng cắc suốt mấy năm. Người có tiền thì bỏ tiền. Người nghèo thì góp ít bạc vụn, góp cái khuyên tai gãy, góp đồng xu cũ còn sót lại sau mùa đói. Có người bán rổ khoai cũng dành lại một đồng đem cúng, mong sửa lại mái miếu trước mùa mưa.

Tiền ấy không nhiều.

Nhưng là lòng của cả làng.

Cụ Từ Lại quay vào miếu, cầm cái mõ gỗ cũ treo bên vách.

Cốc.

Tiếng mõ khô khốc vang lên.

Cốc.

Lần thứ hai, âm thanh vọng qua sân miếu ẩm lạnh.

Cốc.

Lần thứ ba, mấy con chim đang trú trên gốc thị bỗng vỗ cánh bay tán loạn.

Cụ Từ Lại chống gậy ra trước sân, gõ mõ liên hồi.

“Dân làng ơi! Hòm công đức của miếu mất rồi!”

Tiếng mõ và tiếng gọi của cụ lan theo con đường bùn, luồn qua những mái nhà nghèo, đánh thức cả làng Cầu Đục.

Chẳng bao lâu sau, người ta kéo đến.

Đầu tiên là mấy bà già xóm Bờ Lạch. Rồi anh Lễ, mắt thâm quầng sau một đêm thức trắng bên mẹ bệnh. Rồi chị Bường, đầu còn quấn khăn tang trắng, tay ôm tờ giấy nợ đã nhàu nát. Sau nữa là những người từng đến miếu chiều qua, những người từng mất ruộng, mất thuyền, mất trâu, mất cả người thân vì sổ nợ nhà ông phú.

Họ đứng quanh hố đất dưới gốc thị.

Không ai nói được ngay.

Một bà cụ tóc bạc run run quỳ xuống, nhặt lên mảnh dây thừng mục còn dính bùn.

“Tiền sửa miếu… tiền chúng tôi cúng Bà…”

Một người đàn ông nghiến răng:

“Còn ai dám đào ngoài nhà ông phú?”

Người khác đáp:

“Đêm qua khói nhang bay về phía nhà ông ấy.”

Anh Lễ nhìn cái hố dưới gốc thị, hai bàn tay siết chặt. Mặt anh không còn tái như hôm qua nữa, mà đỏ lên vì uất nghẹn.

“Chuông đã bị đem đi. Giờ đến tiền công đức cũng bị đào mất…”

Chị Bường ôm giấy nợ, bật khóc:

“Người chết còn chưa chôn yên, họ đã không tha ruộng nhà tôi. Đến tiền miếu họ cũng không tha…”

Dân làng xôn xao.

Đúng lúc ấy, từ sau bụi tre gần lạch, một bóng nhỏ lấm lem bước ra.

Đó là thằng Sửu chăn vịt.

Mặt nó trắng bệch, môi tím tái vì sợ và vì lạnh. Cả đêm nó không dám ngủ, cứ ngồi trong chòi, nghe tiếng mưa rơi mà trước mắt vẫn hiện lên ánh lửa xanh trong miếu.

Cụ Từ Lại nhìn thấy nó, chậm rãi hỏi:

“Sửu, con thấy gì phải không?”

Thằng bé run lên.

Nó nhìn quanh. Dân làng đều đang nhìn nó. Nó sợ ông phú, sợ Tư Móm, sợ cây gậy tre trong tay hắn. Nhưng rồi nó nhìn cái hố dưới gốc thị, nhìn bát nhang còn bốc khói dù không ai thắp, môi nó mím lại.

Nó quỳ xuống.

“Con… con thấy.”

Cả đám đông lặng đi.

Thằng Sửu nói đứt quãng:

“Đêm qua con ngủ gần lạch. Con nghe tiếng chó rên nên tỉnh. Con thấy Tư Móm với Bảy Cọc cầm cuốc, cầm xẻng đi ra miếu.”

Anh Lễ bước tới một bước.

“Rồi sao?”

“Con núp sau bụi tre. Con thấy họ đào dưới gốc thị. Khi cuốc chạm vào hòm… trong miếu có lửa xanh lóe lên. Bát nhang tự bốc khói. Con chó đi theo Tư Móm cụp đuôi chạy mất.”

Nó nuốt nước bọt, nước mắt trào ra.

“Rồi họ khiêng một cái hòm gỗ về phía nhà ông phú. Con sợ quá… con không dám nói.”

Không ai trách thằng bé.

Ngược lại, mấy người đàn bà bật khóc. Một ông già chống nạng gõ mạnh xuống đất.

“Còn chờ gì nữa? Đòi lại chuông! Đòi lại tiền miếu!”

Một tiếng khác vang lên:

“Đòi cả sổ nợ!”

“Đòi công đạo!”

“Không thể để họ ăn cả tiền người sống lẫn tiền của Bà!”

Cụ Từ Lại đứng trước miếu, đưa mắt nhìn từng người.

Gió lùa qua gốc thị, làm làn khói trong bát nhang nghiêng về phía đầu làng.

Cụ gật đầu.

“Đi.”

Dân làng Cầu Đục kéo đến nhà ông phú Khương.

Con đường từ miếu đến đầu làng vốn lầy lội, sáng ấy càng bị giẫm thành bùn nhão. Người đi trước để lại dấu chân, người đi sau giẫm lên, thành một dòng người dài, im lặng mà nặng nề. Không ai hò hét lúc đầu. Họ chỉ đi. Nhưng cái im lặng ấy còn đáng sợ hơn tiếng la ó.

Cổng nhà ông phú đóng kín.

Bên trong sân, người ta vẫn nghe tiếng chuông vọng ra.

Không rõ là chuông thật hay tiếng còn vướng trong tai sau đêm qua.

Boong.

Rất khẽ.

Boong.

Rất xa.

Nhưng ai cũng nghe.

Tư Móm ngồi co ở góc sân, hai tay ôm đầu. Mắt hắn đỏ ngầu, tóc rối bù, miệng lẩm bẩm không ngừng:

“Đừng gõ nữa… tôi chỉ khiêng thôi… tôi chỉ khiêng thôi…”

Mỗi lần tiếng chuông vang lên từ gian nhà ngang, hắn lại giật nảy như bị roi quất vào lưng.

Bảy Cọc thì đứng cạnh thềm, ôm chặt cuốn sổ nợ vào ngực. Mặt hắn trắng như giấy. Từ sáng đến giờ, hắn đã mở sổ mấy lần rồi lại đóng lại. Mỗi lần mở, hắn lại thấy những cái tên không nên còn hiện lên.

Tên người đã chết.

Tên người đã mất ruộng.

Tên người tưởng đã bị gạch khỏi sổ.

Mực đỏ loang ra từ từng nét chữ như máu thấm qua giấy.

Khi tiếng đập cổng vang lên, cả hai tên cùng run.

Bên ngoài, dân làng bắt đầu gọi:

“Trả chuông đây!”

“Trả hòm công đức!”

“Mở cổng!”

“Ông Khương, ra đây!”

Ông phú Khương từ nhà chính bước ra.

Ông mặc áo the sẫm như mọi ngày, nhưng cổ áo kéo cao hơn, che đi vết hằn đỏ quanh cổ. Mặt ông tái hơn hôm qua, hai mắt thâm quầng. Dù vậy, ông vẫn cố giữ vẻ kẻ cả, tay cầm nửa cây batoong còn lại.

“Đứa nào cho chúng nó tụ tập trước cổng nhà tao?”

Không ai đáp.

Tiếng đập cổng càng mạnh.

Ông phú nghiến răng.

“Mở cổng.”

Gia nhân nhìn nhau, không dám cãi. Cổng gỗ lim chậm rãi mở ra.

Dân làng đứng kín bên ngoài.

Cụ Từ Lại chống gậy đứng trước. Bên cạnh cụ là anh Lễ, chị Bường, thằng Sửu và những người dân mặt mũi xám xịt vì mưa, vì bùn, vì những năm tháng bị nợ đè trên cổ.

Ông phú Khương bước ra giữa sân.

“Sáng sớm kéo đến nhà tao làm loạn à?”

Cụ Từ Lại nhìn thẳng ông.

“Hòm tiền công đức dưới gốc thị bị đào mất.”

Ông phú không đổi sắc.

“Liên quan gì đến tao?”

Thằng Sửu run rẩy bước ra, nấp nửa người sau lưng anh Lễ nhưng vẫn nói:

“Con thấy Tư Móm với Bảy Cọc đào. Họ khiêng hòm về nhà ông.”

Tư Móm nghe gọi tên mình thì ngã phịch xuống nền sân.

Hắn bịt tai, lắc đầu liên tục.

“Đừng gõ nữa… đừng gõ nữa… Tôi chỉ khiêng thôi… Ông phú sai, tôi chỉ khiêng thôi…”

Cả sân lặng đi.

Ông phú Khương quay phắt lại, quát:

“Câm miệng!”

Nhưng tiếng chuông từ gian nhà ngang bỗng vọng ra một tiếng rất nhỏ.

Boong.

Tư Móm rú lên, dập đầu xuống nền gạch.

“Là ông sai! Ông bảo đào! Ông bảo tiền dưới đất là tiền vô chủ! Tôi chỉ khiêng thôi, tôi không dám lấy một đồng!”

Đám đông ồ lên.

Bảy Cọc lùi lại, tay ôm sổ run bần bật.

Cụ Từ Lại chỉ vào hắn.

“Bảy Cọc, mở sổ ra.”

Bảy Cọc lắc đầu.

Ông phú Khương gằn giọng:

“Đứa nào dám?”

Nhưng cuốn sổ trong tay Bảy Cọc bỗng phập phồng.

Không có gió.

Vậy mà những trang giấy tự động cựa quậy, như có hàng trăm ngón tay ở bên trong muốn lật ra.

Bảy Cọc sợ quá buông tay.

Cuốn sổ rơi xuống sân, tự bật mở.

Một trang.

Hai trang.

Ba trang.

Gió từ lạch thổi vào, mang theo mùi bùn lạnh. Những tờ giấy nợ nằm trong sổ cứ phập phồng, lật qua lật lại. Trên từng trang, tên người vay loang dần thành màu đỏ.

Có những cái tên dân làng tưởng đã bị quên từ lâu.

Ông Nghị xóm Cầu Rộc.

Thím Chín Nuôi.

Lý con ông Ba Sỏi.

Ông Tạo chèo đò.

Bà Hường bán bánh.

Có cả những người đã chết nhiều năm, có người mất tích trong lũ, có người chết bệnh, có người vì mất ruộng mà tha phương biệt xứ.

Dấu tay bùn in kín trên giấy.

Dấu nọ chồng lên dấu kia, lớp lớp, đen đặc, như cả cuốn sổ vừa được nhúng xuống đáy lạch rồi vớt lên.

Một bà già trong đám đông bỗng òa khóc.

“Tên chồng tôi… ông ấy chết rồi mà vẫn còn trong sổ…”

Một người đàn ông khác run giọng:

“Tôi trả món đó ba năm trước rồi. Sao vẫn còn?”

Bảy Cọc quỳ sụp xuống.

Hắn ôm đầu, khóc như đứa trẻ.

“Tôi khai… tôi khai hết…”

Ông phú Khương gầm lên:

“Bảy Cọc!”

Nhưng Bảy Cọc không dừng được nữa.

Hắn vừa khóc vừa nói:

“Ông phú sai tôi ghi lãi chồng gốc. Nhiều nhà trả rồi nhưng ông không cho xóa. Ai không biết chữ thì ông bảo điểm chỉ, bảo chỉ là giấy khất, thật ra là giấy nhận thêm lãi. Có nhà chỉ vay ba quan, qua hai mùa đã thành mười quan. Có ruộng xiết rồi vẫn ghi nợ tiếp. Hòm công đức… hòm công đức đúng là ông sai chúng tôi đào.”

Tiếng xôn xao bùng lên như nước vỡ bờ.

Chị Bường lao tới, giơ tờ giấy nợ lên.

“Còn tôi? Tôi vay năm quan, chỉ nhận bốn quan, chồng tôi chết rồi, ông ấy vẫn bắt tôi trả sáu quan, còn đòi xiết ruộng!”

Bảy Cọc cúi đầu, không dám nhìn chị.

“Có ghi trong sổ… trừ lãi trước… vẫn tính đủ nợ.”

Chị Bường ngã khuỵu xuống, khóc nấc.

Anh Lễ đỡ chị dậy, mắt đỏ ngầu nhìn ông phú.

“Còn chiếc chuông? Chuông của miếu Bà Trầm đâu?”

Ông phú Khương đứng giữa sân, mặt lúc đỏ lúc trắng.

Nhưng đến lúc ấy, ông vẫn không chịu nhận.

Ông cười gằn.

“Giỏi. Giỏi lắm. Một đám nợ tiền kéo nhau đến vu oan cho chủ nợ.”

Cụ Từ Lại bước lên.

“Trả chuông đồng và hòm tiền công đức về miếu. Mở kho giấy nợ để dân làng xét lại từng món.”

Ông phú Khương chống nửa cây batoong xuống sân.

“Tiền ai giữ được thì là của người đó. Hòm nằm dưới đất, không đề tên ai, ai bảo là của miếu? Chuông ở nhà con nợ thì có thể cấn nợ. Giấy nợ có điểm chỉ thì dân phải trả. Đó là luật.”

Anh Lễ nói, giọng khàn đi:

“Luật nào cho ông lấy đồ chung của làng đem cấn nợ riêng?”

Chị Bường siết chặt tờ giấy trong tay:

“Luật nào cho ông lấy sáu quan khi tôi chỉ cầm bốn quan?”

Một người dân hét lên:

“Luật nào cho ông ghi nợ người đã chết?”

Tiếng người khác nối theo:

“Mở kho giấy nợ!”

“Trả ruộng cho dân!”

“Trả tiền miếu!”

“Trả chuông cho Bà!”

Tiếng đòi công đạo từ rời rạc trở thành đồng thanh, dội vào tường gạch nhà ông phú, vang lên từng lớp.

Ông phú Khương tức đến run người. Ông giơ nửa cây batoong lên, đập mạnh xuống sân.

“Thần thánh nào dám xóa nợ thay chúng mày?”

Câu ấy vừa dứt, chiếc chuông đồng trong gian nhà ngang tự kêu.

Boong.

Tiếng chuông trầm xuống như một hòn đá rơi vào lòng lạch.

Gió từ phía con lạch sau làng thổi ập vào sân, mang theo mùi bùn tanh và mùi nhang lạnh. Áo người trong sân bay phần phật. Mấy tờ giấy nợ trên mặt đất phồng lên như có hơi thở bên dưới.

Boong.

Ở miếu Bà Trầm, bát nhang trước tượng Bà tự bốc khói, dù không ai thắp. Làn khói trắng lùa qua cửa miếu, xuyên qua màn mưa mỏng, hướng thẳng về nhà ông phú.

Boong.

Tiếng chuông thứ ba vang lên.

Cửa kho giấy nợ trong nhà ông phú bật tung.

Từ bên trong, hàng trăm tờ giấy nợ bay ra.

Không phải bị gió thổi.

Mà như có vô số bàn tay vô hình tung chúng lên, lật chúng ra, xô chúng về phía sân.

Giấy nợ bay trắng xóa, nhưng khi chạm vào mưa thì không rã. Chúng xoáy quanh ông phú Khương, rồi từng tờ một dính lên áo, lên mặt, lên tay, lên cổ ông.

Ông phú hét lên, cố gỡ.

Một tờ dính vào má ông.

Trên đó hiện tên thím Chín Nuôi, người đàn bà đã treo cổ trong bếp sau khi bị xiết ruộng.

Một tờ dính vào cổ ông.

Trên đó hiện tên ông Nghị xóm Cầu Rộc.

Một tờ dính lên bàn tay cầm batoong.

Trên đó là tên chồng chị Bường, mực đỏ loang dài xuống mép giấy như máu.

Ông phú Khương giật mạnh.

Giấy không rách.

Ông càng giật, giấy càng dính chặt, lạnh và nhớp như bàn tay người chết vừa trồi lên từ bùn lạch.

Trên mỗi tờ giấy, chữ mực loang ra thành vệt đỏ.

Tên những người bị ép nợ hiện lên rõ ràng.

Những món đã trả.

Những món bị tính lãi chồng gốc.

Những món bị ép điểm chỉ.

Những món gắn với ruộng mất, nhà tan, người chết.

Dân làng đứng chết lặng.

Không ai còn dám la hét.

Bởi lúc ấy, ngoài cổng nhà ông phú, trong màn mưa mỏng, họ thấy những bóng người đứng lặng.

Không biết họ đến từ lúc nào.

Có người già chống gậy, lưng còng, đầu cúi thấp.

Có người đàn bà bồng con, mái tóc ướt rũ xuống che nửa mặt.

Có người đàn ông gầy gò mặc áo nâu rách, nước bùn chảy từ gấu quần xuống chân.

Có đứa trẻ đứng nép sau vạt áo một người mẹ đã mất.

Họ không bước qua cổng.

Chỉ đứng ngoài đó, thành một hàng dài mờ nhòe trong mưa.

Một bà lão trong đám đông bỗng run rẩy đưa tay lên miệng.

“Ông nhà tôi…”

Một người đàn bà khác ngã khuỵu:

“Con ơi…”

Chị Bường chết lặng, nhìn thấy bóng một người đàn ông gầy gò đứng sau hàng người. Gương mặt nhòe trong mưa, nhưng dáng vai ấy, bàn tay ấy, cả đời chị cũng không quên.

“Nhà ơi…”

Chị gọi một tiếng, nhưng bóng người không đáp.

Những bóng người ngoài cổng chỉ đồng loạt giơ bàn tay lên.

Bàn tay nào cũng dính bùn.

Bùn nhỏ xuống nền, không tan vào nước mưa, mà bò thành từng vệt đen hướng về phía ông phú Khương.

Tư Móm ngã quỵ, dập đầu liên tục đến bật máu.

“Tha cho tôi! Tôi chỉ nghe lệnh! Tôi chỉ khiêng hòm! Đừng gõ chuông nữa!”

Bảy Cọc ôm cuốn sổ nợ, khóc nghẹn.

“Tôi khai rồi… tôi khai hết rồi… Xin tha…”

Ông phú Khương lùi từng bước.

Những tờ giấy nợ dính đầy người ông. Ông đưa tay gỡ không được, xé không rách, phủi không rơi. Mỗi bước lùi, giấy lại siết quanh cổ ông chặt hơn. Vết hằn đỏ đêm qua như bị ai kéo mạnh, rát buốt.

Ông nhìn ngoài cổng.

Nhìn những bàn tay bùn.

Nhìn dân làng.

Nhìn chiếc chuông nằm trong gian nhà ngang.

Lần đầu tiên, mắt ông hiện lên vẻ hoảng sợ thật sự.

Ông quay người chạy vào kho bạc.

Cánh cửa kho đóng sầm lại sau lưng ông.

Rầm.

Then cửa tự sập xuống.

Không ai chạm vào.

Bên trong lập tức vang lên tiếng chuông.

Boong.

Rồi tiếng tiền đồng rơi lạch cạch.

Lạch cạch.

Lạch cạch.

Sau đó là tiếng nước chảy.

Ọc… ọc…

Như cả con lạch Cầu Đục đang tràn vào kho bạc.

Rồi tiếng người khóc.

Không phải một người.

Tiếng đàn bà khóc con.

Tiếng người già ho khan.

Tiếng trẻ nhỏ nức nở.

Tiếng đàn ông thở dốc như bị vắt kiệt sức ngoài đồng.

Và giữa những âm thanh ấy là tiếng giấy nợ bị lật từng trang.

Sột soạt.

Sột soạt.

Bảy Cọc ôm đầu rên lên:

“Đừng lật nữa… đừng lật nữa…”

Cụ Từ Lại chống gậy bước tới cửa kho, giọng run nhưng rõ:

“Phá cửa.”

Dân làng ùa lên.

Người dùng vai húc.

Người dùng gậy nạy.

Anh Lễ nhặt một khúc gỗ đập mạnh vào then cửa.

Một lần.

Hai lần.

Ba lần.

Đến lần thứ tư, cánh cửa bật mở.

Mùi bùn xộc ra nồng nặc.

Trong kho, rương bạc đã mở toang.

Tiền đồng tràn ra từ miệng rương như nước lạch. Đồng nào đồng nấy ướt nhẹp, dính bùn, lăn lóc khắp nền. Những xấp bạc, những quan tiền, những mảnh vàng nhỏ đều bị phủ một lớp bùn đen, không còn sáng nữa.

Ông phú Khương nằm giữa đống tiền ấy.

Hai tay ông ôm lấy cổ.

Mắt trợn trắng.

Miệng há ra, bên trong mắc đầy những đồng tiền nhỏ, như có ai nhét tiền vào miệng ông cho đến khi ông không thở nổi.

Quanh người ông, giấy nợ dính kín.

Có tờ bám vào ngực.

Có tờ quấn quanh chân.

Có tờ phủ lên mặt như khăn liệm.

Nhưng ông chưa chết.

Ngực ông vẫn phập phồng rất khẽ.

Cổ họng ông phát ra tiếng khục khặc.

Trên nền kho, ngay trước rương bạc, có ba nén nhang đang cháy.

Không ai biết chúng từ đâu ra.

Ba nén nhang cắm thẳng xuống nền gạch, lửa đỏ ở đầu, khói trắng bay lên rồi lùa thành một đường mỏng thẳng về phía miếu Bà Trầm.

Cụ Từ Lại quỳ xuống trước ba nén nhang, vái một vái thật sâu.

Dân làng im phăng phắc.

Ông phú Khương bỗng giật mạnh, rồi bật ngồi dậy.

Mọi người lùi lại.

Ông đưa tay cào cổ, cào mặt, móng tay bết bùn và máu. Những tờ giấy nợ trên người ông rơi xuống từng tờ, nhưng mắt ông đã không còn nhìn thấy ai trong sân nữa.

Ông bò trên nền kho, nhặt từng chiếc lá khô bị gió cuốn vào, ôm chặt vào ngực.

“Giấy nợ… giấy nợ…”

Ông cười khục khặc, rồi khóc.

“Tao trả… tao trả… đừng gõ chuông nữa… tao trả…”

Ông vơ tiền bùn nhét vào tay mình, rồi lại ném ra, rồi lại bò đi nhặt lá.

“Tao trả mà… đừng gõ nữa… đừng gõ chuông nữa…”

Không ai phải trói ông.

Cũng không ai cần đánh ông.

Ông phú Khương, người từng khiến cả làng cúi mặt tránh đường, giờ bò giữa đống tiền ướt bùn, miệng lặp đi lặp lại một câu, mắt mở trừng trừng nhìn vào khoảng không như vẫn thấy những bàn tay bùn chìa về phía mình.

Ngoài cổng, những bóng người trong mưa dần mờ đi.

Không ai thấy họ quay lưng.

Không ai thấy họ bước đi.

Chỉ đến khi mưa thưa hơn, cổng nhà ông phú trống rỗng, trên nền đất còn lại những vệt bùn đen kéo dài rồi tan dần vào nước.

Chiếc chuông trong gian nhà ngang không kêu nữa.

Nó nằm im trên bàn.

Bên cạnh là hòm tiền công đức bị bùn phủ kín.

Cụ Từ Lại chống gậy đứng dậy.

“Đưa chuông và hòm tiền về miếu.”

Lần này, không ai dám cản.

Anh Lễ bước vào gian nhà ngang.

Anh dừng trước chiếc chuông đồng, hai mắt đỏ lên. Anh không chạm ngay, mà quỳ xuống, dập đầu ba cái.

“Bà ơi, con đến rước chuông về.”

Rồi anh lấy lớp vải đỏ cũ bọc lại chiếc chuông, nâng lên bằng cả hai tay. Lạ thay, chiếc chuông trong tay anh không nặng như lời Tư Móm nói. Nó trầm, chắc, nhưng không đè người. Anh ôm chuông trước ngực, cảm thấy hơi lạnh từ thân đồng dần dịu lại, như một vật đi xa lâu ngày nay được đưa về đúng chỗ.

Mấy người dân khác khiêng hòm tiền công đức.

Bảy Cọc quỳ bên sân, run rẩy đưa cuốn sổ nợ cho cụ Từ Lại.

“Con xin khai hết. Món nào ghi oan, con chỉ. Món nào đã trả, con chỉ. Món nào ông phú bắt tính lãi, con chỉ hết…”

Cụ Từ Lại nhìn hắn.

“Không phải khai với ta. Khai trước dân làng. Khai trước miếu.”

Bảy Cọc cúi đầu, nước mắt rơi xuống sổ.

Tư Móm thì vẫn ngồi bệt dưới sân, hai tay bịt tai. Dù chuông đã im, hắn vẫn lẩm bẩm:

“Đừng gõ nữa… đừng gõ nữa…”

Dân làng đưa chuông và hòm công đức trở về miếu Bà Trầm ngay trong buổi sáng ấy.

Con đường bùn từ nhà ông phú về miếu bỗng trở nên đông người. Không ai nói lớn. Người đi trước cầm nhang, người đi sau khiêng hòm. Anh Lễ ôm chuông đi giữa. Chị Bường đi cạnh, tay vẫn giữ tờ giấy nợ. Cụ Từ Lại chống gậy dẫn đầu, mỗi bước đi đều chậm nhưng chắc.

Khi đoàn người đến miếu, bát nhang vẫn còn khói.

Cụ Từ Lại sai người múc nước sạch, hái lá thơm trong vườn sau miếu, rồi tự tay lau chiếc chuông đồng. Bùn, bụi và vết tay người tham dần được rửa sạch. Những đường vân mờ như sóng nước trên thân chuông hiện ra rõ hơn dưới ánh sáng xám của trời mưa.

Anh Lễ đứng dưới mái miếu, hai tay nâng chuông.

Cụ Từ Lại nhìn anh, gật đầu.

“Con treo lại đi. Cha con giữ chuông năm xưa, nay đến lượt con trả chuông về chỗ cũ.”

Anh Lễ nghẹn lời.

Anh trèo lên chiếc ghế gỗ, tự tay treo chuông dưới mái miếu. Khi móc chuông vừa vào vị trí, một làn gió nhẹ thổi qua gốc thị.

Chuông khẽ ngân.

Không phải tiếng báo oán như trong nhà ông phú.

Mà là một tiếng rất nhỏ, rất trong, như giọt nước rơi xuống mặt lạch sau cơn mưa dài.

Chị Bường quỳ trước miếu, đặt tờ giấy nợ của mình xuống.

“Cụ ơi… tờ này…”

Cụ Từ Lại nhìn dân làng.

“Chị Bường chỉ nhận bốn quan. Chồng chị mất trong đêm. Món nợ này bị tính oan. Dân làng có làm chứng không?”

Từng tiếng đáp vang lên:

“Có.”

“Chúng tôi làm chứng.”

“Chúng tôi nghe Bảy Cọc khai rồi.”

Cụ Từ Lại gật đầu.

“Vậy đốt đi. Nhưng không phải đốt để quên. Đốt để trả lại phần oan cho người sống và người chết.”

Chị Bường run tay đưa giấy nợ vào lửa.

Tờ giấy bắt lửa rất nhanh.

Mực đỏ trên giấy co lại, quăn lên, rồi hóa thành tro. Chị Bường nhìn đốm lửa nuốt dần dấu tay điểm chỉ của mình, nước mắt rơi không thành tiếng.

Sau đó, dân làng mở kho giấy nợ nhà ông phú.

Không phải để cướp.

Mà để xét lại từng món.

Cụ Từ Lại, mấy vị bô lão và những người biết chữ trong làng ngồi ngay trước sân miếu. Bảy Cọc quỳ bên cạnh, run rẩy chỉ từng trang, khai từng khoản.

Món nào đã trả thì hủy.

Món nào bị tính lãi chồng gốc thì xóa phần oan.

Món nào ép điểm chỉ người không biết chữ thì đưa ra trước dân làng làm chứng.

Ruộng nào bị xiết trái đạo lý thì ghi lại, chờ làng cùng xét trả.

Không phải mọi nỗi oan đều có thể trả ngay trong một ngày.

Người chết thì không sống lại.

Nhà tan thì khó dựng trong chốc lát.

Nhưng từ hôm ấy, những tờ giấy nợ không còn là thứ khiến dân làng phải cúi đầu nữa. Chúng được đem ra dưới ánh sáng, dưới khói nhang của miếu Bà Trầm, trước mắt những người từng bị chúng đè lên cổ.

Hòm tiền công đức được mở trước miếu.

Bên trong có tiền đồng, bạc vụn, vài chiếc khuyên tai cũ, một chiếc vòng đồng gãy, mấy đồng xu đã xanh rỉ. Tất cả đều được rửa sạch, phơi lên mâm, ghi lại từng món. Không ai dám động riêng một đồng.

Cụ Từ Lại nói:

“Tiền này để sửa miếu. Một đồng cũng là lòng người. Lòng người đã gửi Bà thì không ai được lấy làm của riêng.”

Dân làng đều gật đầu.

Sau biến cố ấy, nhà ông phú Khương không còn như trước.

Ông phú chưa chết, nhưng cũng không còn là ông phú nữa.

Người ta kể, từ ngày ấy, ông mất trí. Suốt ngày ông lang thang trong sân, nhặt lá khô, nhặt giấy rách, nhặt cả vỏ trấu, ôm vào ngực mà lẩm bẩm:

“Tao trả… tao trả… đừng gõ chuông nữa…”

Có hôm trời đang nắng, ông cũng bịt tai la hét như nghe thấy tiếng chuông. Có hôm đêm mưa, ông bò ra sân, vục tay xuống bùn, nhặt từng đồng tiền tưởng tượng rồi dúi vào khoảng không trước mặt.

“Tao trả rồi… đừng chìa tay nữa…”

Đám gia nhân bỏ đi gần hết.

Tư Móm về sau không còn dám cầm gậy. Hắn cứ nghe tiếng kim loại va vào nhau là run bắn. Người ta bảo đến tận lúc chết, hắn vẫn bị tiếng chuông trong đầu hành, đêm nào cũng ôm tai lăn lộn.

Bảy Cọc bỏ nghề ghi nợ. Sau này hễ thấy mực đỏ, hắn lại tái mặt, tay run đến không cầm nổi bút. Có người nói hắn về cuối đời đi chép kinh thuê cho chùa, nhưng mỗi khi chép đến chữ “nợ”, hắn đều dừng rất lâu.

Miếu Bà Trầm được sửa lại sau mùa mưa năm ấy.

Dân làng thay mái ngói mới, đắp lại nền, quét sạch gốc thị, dựng lại cửa gỗ. Bát nhang được lập lại bằng tro sạch. Hòm công đức đặt trong miếu, khóa ba lớp, chìa giao cho ba người khác nhau giữ. Chiếc chuông đồng treo dưới mái hiên, ngay trước tượng Bà Trầm.

Anh Lễ thay cha giữ việc hương khói.

Mẹ anh, bà Cả Hiền, sau trận ấy bệnh vẫn nặng, nhưng khi nghe chuông đã trở về miếu, bà tỉnh được một buổi. Bà bảo anh dìu ra trước cửa, nhìn về phía gốc thị già, rồi thở dài:

“Vậy là cha con không trách nữa.”

Ít lâu sau, bà mất trong một đêm không mưa.

Anh Lễ để tang mẹ, rồi vẫn ngày ngày ra miếu quét lá, thay nước, thắp nhang. Mỗi khi đánh chuông ngày lễ, anh đều cúi đầu rất thấp, như sợ tiếng chuông mang theo cả lời người sống lẫn người khuất.

Chị Bường giữ được mảnh ruộng nhỏ ở Cầu Rộc.

Chồng chị đã mất, nỗi đau không ai trả lại được. Nhưng ít nhất, ruộng ấy còn để chị cấy lúa, nuôi con, sống tiếp qua những mùa mưa sau.

Từ ngày chuông trở về miếu, người làng bảo lạch Cầu Đục dần trong hơn.

Không phải trong như suối núi.

Nhưng nước bớt đục, bớt tanh, mùa mưa cũng ít tràn vào ruộng hơn trước. Những thửa ruộng thấp ven lạch không còn mất trắng liên tiếp như mấy năm cũ. Gốc thị già năm sau lại ra trái. Trái không nhiều, nhưng vàng và thơm.

Người làng Cầu Đục từ đó không ai dám lấy đồ thờ làm vật cấn nợ.

Không ai dám động vào tiền miếu.

Dẫu có nghèo, có đói, có túng quẫn đến đâu, họ cũng dặn nhau: thứ đã gửi vào cửa Bà thì không còn là của riêng người sống.

Tiếng chuông Bà Trầm về sau chỉ vang trong ngày lễ, ngày rằm, ngày dân làng cầu nước yên, mùa màng thuận.

Nhưng cũng có những đêm mưa rất khuya, khi gió từ lạch thổi qua bờ tre, người đi ngang miếu lại nghe một tiếng chuông rất nhỏ.

Boong.

Không lớn.

Không dài.

Chỉ một tiếng thôi.

Người làng nghe thấy thì không ai dám quay đầu nhìn vào miếu. Họ chỉ kéo áo kín cổ, bước nhanh hơn, miệng lẩm nhẩm khấn Bà phù hộ.

Nhiều năm sau, chuyện nhà ông phú Khương vẫn còn được kể lại bên bếp lửa, trong những đêm mưa cuối thu.

Người già kể cho trẻ nhỏ nghe rằng, ngày xưa ông phú Khương giàu nhất làng Cầu Đục, tiền bạc chất đầy rương, giấy nợ chất đầy kho. Ông cho vay nặng lãi, ép người nghèo đến chết, rồi còn dám xiết chuông miếu Bà Trầm, đào cả hòm tiền công đức dưới gốc thị.

Cuối cùng, ông không chết ngay.

Nhưng sống mà như bị chôn trong đống giấy nợ của chính mình.

Ông hóa điên, suốt đời nhặt lá khô tưởng là giấy nợ, miệng lúc nào cũng lặp:

“Tao trả… tao trả… đừng gõ chuông nữa…”

Tư Móm nghe tiếng chuông đến chết.

Bảy Cọc bỏ sổ nợ, cả đời thấy mực đỏ là run.

Anh Lễ giữ hương khói miếu Bà thay cha.

Chị Bường giữ được mảnh ruộng nhỏ, nhưng mỗi mùa giỗ chồng đều đem ba nén nhang ra miếu, cắm dưới chân tượng Bà Trầm.

Và từ đó về sau, người làng Cầu Đục vẫn dặn con cháu:

“Tiền vay có thể khất, tiền nợ có thể đòi, nhưng tiền miếu và đồ thờ thì tuyệt đối đừng động. Bởi chuông Bà Trầm không kêu để gọi lễ, nó kêu để gọi kẻ còn nợ âm.”

· · ·
← Chương trước Mục lục Đây là chương cuối
Trợ lý AI
Trợ lý AI
Tư vấn truyện · Luôn sẵn sàng
👋 Xin chào! Mình là trợ lý AI của LinkTruyen.

Mình có thể giúp bạn:
  • Gợi ý truyện phù hợp
  • Giải thích các thể loại
  • Hướng dẫn sử dụng web
Bạn muốn đọc truyện thể loại gì? 😊