Cái Chuông Cấn Nợ
Người làng Cầu Đục về sau vẫn bảo, cái nghiệp của nhà ông phú Khương không phải tự nhiên mà đến.
Nó bắt đầu vào một chiều cuối thu, khi mây xám đè thấp xuống những mái rạ ướt sũng, lạch nước sau làng đục ngầu như vừa có ai khuấy bùn từ tận đáy lên. Gió thổi qua bờ tre cuối xóm, rin rít từng hồi, nghe như tiếng ai nghiến răng trong đêm lạnh. Đường làng vừa qua mấy trận mưa, bùn lầy bám vào guốc dép, mỗi bước đi đều để lại một vết lõm đen sẫm, loáng nước.
Làng Cầu Đục vốn nghèo.
Nghèo từ mái nhà nghiêng vẹo, nghèo từ vách đất nứt ngang nứt dọc, nghèo từ những nong thóc lép phơi mãi không khô, nghèo từ tiếng ho của người bệnh vọng ra sau cánh cửa tre mục. Cuối làng có con lạch chảy quanh năm, nước lúc nào cũng đục, nên người ta mới gọi là Cầu Đục. Qua khỏi cây cầu gỗ cũ ấy là xóm Bờ Lạch, nơi những nhà nghèo nhất trong làng chen nhau sống sát mé nước.
Chiều ấy, khi tiếng mõ chùa xa xa vừa vẳng qua đồng, người ta thấy ông phú Khương chống batoong đi từ phía đình về.
Ông vừa ăn bữa rượu bên đình. Mặt còn đỏ, cổ ngắn rụt trong cổ áo the sẫm màu. Đôi mắt ông híp lại dưới cặp chân mày rậm, miệng lúc nào cũng mím như đang cân nhắc trong đầu xem nhà nào còn nợ, nhà nào có thể xiết thêm được món gì.
Sau lưng ông là hai gia nhân.
Tư Móm đi trước, tay cầm cây gậy tre vót nhẵn, miệng nhai trầu bỏm bẻm. Hắn tên là Tư Móm vì hàm trên mất mấy cái răng, hễ cười là mép xệch sang một bên, trông vừa khinh khỉnh vừa độc địa.
Bảy Cọc đi sau, ôm cái sổ nợ bọc vải dầu, bên hông đeo túi mực, con dấu gỗ và một cuộn dây thừng. Hắn gầy nhẳng, cao lêu nghêu như cây cọc phơi ngoài đồng, nên người làng gọi là Bảy Cọc. Hắn ít nói, nhưng thứ gì đã ghi vào sổ của hắn thì khó mà gỡ ra.
Ba người vừa rẽ vào đường làng, mấy đứa trẻ đang chơi chuyền vội chạy tọt vào hiên. Một bà lão đang rửa rau bên giếng thấy bóng ông phú thì cúi gằm mặt, bê rổ rau đi thẳng vào nhà. Mấy cánh cửa tre hai bên đường lần lượt khép lại, chỉ còn những khe hở tối om nhìn ra.
Ông phú Khương thấy vậy thì nhếch mép.
Ông thích cái cảnh ấy.
Cả làng sợ ông, nghĩa là cả làng còn biết nợ ông.
Đi đến gần gốc đa đầu xóm, ông dừng lại, chống đầu batoong xuống nền bùn.
“Nhà thằng Lễ ở đâu?”
Bảy Cọc vội lật sổ, ngón tay khẳng khiu miết qua từng dòng mực đen.
“Bẩm ông, Lễ con bà Cả Hiền, ở cuối xóm Bờ Lạch. Sát con mương cũ. Nợ ba quan gốc, hai quan lãi. Đã quá hạn nửa tháng.”
Tư Móm cười khành khạch.
“Nhà ấy còn gì mà xiết nữa đâu ông. Lần trước con thấy cái mái cũng muốn sập rồi.”
Ông phú Khương hừ một tiếng.
“Nhà nghèo không có nghĩa là không còn đồ. Lục kỹ thì rác cũng thành tiền.”
Họ tiếp tục đi.
Bùn bắn lên gấu áo the của ông phú, nhưng ông chẳng buồn nhìn xuống. Hai bên đường, những vạt cỏ úa cúi rạp dưới gió. Xa xa, phía miếu Bà Trầm dưới gốc thị già, có tiếng chuông rất mơ hồ vọng tới. Không rõ là tiếng chuông thật, hay tiếng gió va vào đâu đó, ngân lên một hơi lạnh buốt.
Một bà già nép bên hiên nhà nhìn theo đoàn người, môi móm mém lẩm bẩm:
“Chiều nay nhà nào đến hạn nợ, nhà ấy khóc.”
Không ai đáp.
Câu nói ấy trôi vào gió, lẫn với mùi bùn lạch tanh lạnh, rồi chìm xuống con đường làng ướt sũng.
Nhà anh Lễ ở cuối xóm Bờ Lạch.
Đó là một căn nhà thấp bé, mái rạ vá chằng vá đụp bằng mấy mảnh lá cũ. Vách đất phía đông đã nứt một đường dài, mỗi khi gió lùa qua lại rơi xuống ít bụi khô. Cánh cửa tre buộc bằng sợi dây rơm, mở ra đóng vào đều kêu cót két như tiếng xương người già.
Trước sân, mấy cọng rau dại mọc lưa thưa bên cái chum nước nứt miệng. Dưới mái hiên, một đôi quang gánh cũ dựng nghiêng, cạnh đó là bó rơm ướt chưa kịp phơi.
Anh Lễ đang ngồi chẻ củi bên bếp. Nghe tiếng gậy gõ xuống sân, anh ngẩng lên. Vừa thấy ông phú Khương, mặt anh lập tức tái đi.
Anh vội buông con dao, chạy ra sân, hai tay chắp trước ngực.
“Con lạy ông phú.”
Ông phú Khương không nhìn anh ngay. Ông đưa mắt quét qua căn nhà, từ mái rạ dột đến cái cửa tre ọp ẹp, rồi mới hỏi:
“Biết hôm nay là ngày gì không?”
Anh Lễ cúi đầu.
“Dạ… con biết. Nhưng xin ông phú thương cho con khất thêm một vụ nữa. Mẹ con bệnh nặng, lúa ngoài đồng bị nước lạch tràn, nhà con thật sự không còn xoay đâu ra tiền.”
Trong nhà vang ra tiếng ho khò khè.
Bà Cả Hiền, mẹ anh Lễ, nằm trên cái giường tre sát vách. Bà gầy đến mức hai gò má nhô cao, mái tóc bạc dính bết vào thái dương. Trên vách phía đầu giường treo một tấm áo tang cũ đã ngả màu, đó là áo tang của cha anh Lễ năm xưa.
Ông phú Khương nhìn vào trong, ánh mắt lạnh tanh.
“Bệnh là việc của bệnh. Nợ là việc của nợ.”
Anh Lễ quỳ sụp xuống nền sân ướt.
“Con xin ông. Chỉ một vụ nữa thôi. Sang mùa sau con bán lúa, bán công làm thuê, nhất định trả đủ.”
Ông phú Khương chống batoong, cúi xuống nhìn anh.
“Vay có giấy, nợ có kỳ. Thần thánh nào dám xóa nợ thay chúng mày?”
Tư Móm nghe vậy liền cười hô hố. Bảy Cọc đứng bên cạnh đã mở sổ, chấm bút vào túi mực, chuẩn bị ghi.
Anh Lễ dập đầu.
“Con không dám xin xóa. Con chỉ xin khất.”
“Khất?” Ông phú nhướng mày. “Nhà nào cũng xin khất, thì tiền của tao đem cho chó ăn à?”
Nói rồi ông phất tay.
“Vào trong. Có gì xiết được thì xiết.”
Tư Móm chờ có thế, lập tức đẩy anh Lễ sang một bên, nghênh ngang bước vào nhà. Bảy Cọc theo sau, mắt đảo nhanh như cú nhìn mồi trong tối.
Anh Lễ hốt hoảng đứng dậy.
“Ông phú! Nhà con thật không còn gì đáng giá!”
Tư Móm đã lục bên bếp, nhấc lên một cái nồi đồng sứt miệng.
“Cái này còn bán được vài xu.”
Bảy Cọc ghi vào sổ.
Tư Móm lại đá vào góc nhà, lôi ra mấy cái rổ tre, một cái chiếu rách, một con dao cùn, rồi xốc cả cái hũ thóc nhỏ. Thóc trong hũ chỉ còn lưng đáy, toàn hạt lép và trấu vụn.
“Cũng mang đi.” Ông phú nói.
Anh Lễ run giọng:
“Ông lấy nồi, lấy thóc, mai mẹ con ăn gì?”
Ông phú Khương lạnh lùng đáp:
“Lúc vay tiền sao không nghĩ mai ăn gì?”
Anh Lễ nghẹn họng.
Bên giường, bà Cả Hiền lại ho. Tiếng ho khô khốc, kéo dài, như có ai cào vào vách đất.
Tư Móm đang định quay ra thì mắt hắn chợt dừng ở cái chõng tre gần bàn thờ. Trên đó có một vật được bọc trong lớp vải đỏ đã cũ. Lớp vải tuy bạc màu, nhưng được buộc rất cẩn thận, phía trên còn có một sợi chỉ vàng sờn.
Hắn bước tới, đưa tay giật lớp vải ra.
Một chiếc chuông đồng nhỏ hiện ra.
Chuông không lớn, chỉ bằng cái bát úp, nhưng thân chuông dày, màu đồng đã ngả sẫm, trên miệng có khắc những đường vân mờ như sóng nước. Dù lâu ngày chưa lau, chiếc chuông vẫn ánh lên một thứ sắc lạnh khác thường.
Tư Móm cầm lên, thấy nặng tay, mắt lập tức sáng rực.
“Ông ơi, cái này được đấy. Bán đồng chắc cũng được mấy quan.”
Anh Lễ vừa nhìn thấy chiếc chuông trong tay Tư Móm thì mặt cắt không còn giọt máu. Anh lao tới, ôm chặt lấy chân hắn.
“Không được! Cái đó không lấy được!”
Tư Móm suýt ngã, liền giơ gậy lên.
“Buông ra, thằng này!”
Anh Lễ vẫn ôm chặt, giọng lạc đi:
“Ông lấy nồi, lấy chiếu, lấy cả mảnh vườn cũng được. Nhưng cái chuông ấy là của miếu, không phải của nhà con.”
Ông phú Khương đang đứng ngoài sân nghe vậy thì nhíu mày.
“Chuông miếu?”
Bảy Cọc cúi xuống nhìn kỹ, tay sờ quanh thân chuông.
“Quả là có khắc chữ, nhưng mờ rồi, không đọc rõ.”
Anh Lễ quỳ quay về phía ông phú, hai tay chắp lại.
“Bẩm ông, đó là chuông của miếu Bà Trầm. Năm xưa lũ lớn, nước ngập đến mái miếu, cha con khi ấy coi việc hương khói nên đem chuông về giữ tạm. Miếu hư, chưa sửa xong thì cha con mất. Con định khi nào dân làng góp đủ tiền sửa lại sẽ đem trả. Chuông ấy không phải đồ nhà con, con không thể đem cấn nợ.”
Trong nhà, bà Cả Hiền không biết tỉnh từ lúc nào. Bà hé mắt nhìn ra, môi khô nứt run run.
“Lễ ơi…”
Anh Lễ quay đầu.
“Mẹ…”
Bà Cả Hiền thở khò khè, tiếng nói nhỏ như tiếng gió luồn qua khe cửa:
“Chuông của Bà… không được để người tham cầm…”
Nói xong bà lại ho dữ dội, cả thân người gầy guộc co rúm trên giường.
Không khí trong nhà bỗng lạnh đi.
Tư Móm đang cầm chuông cũng khựng lại. Hắn liếc ra ngoài sân, như thể vừa nghe thấy tiếng gì vọng lên từ đáy chuông. Nhưng ông phú Khương lập tức bật cười.
“Người tham?”
Ông nhìn bà Cả Hiền, rồi nhìn anh Lễ.
“Đến lúc không trả nổi nợ thì cái gì cũng thành đồ miếu, đồ thiêng. Miếu còn chẳng nuôi nổi dân nghèo, cái chuông đồng ấy trả được nợ thì Bà nào trách?”
Anh Lễ dập đầu xuống nền đất.
“Con xin ông. Cái chuông ấy không được đem đi.”
Ông phú Khương lạnh mặt.
“Đồ gì ở nhà con nợ thì đều tính được thành bạc.”
Đúng lúc ấy, ngoài sân có tiếng gậy chống vội vã.
“Không được!”
Mọi người quay ra.
Cụ Từ Lại từ ngoài ngõ bước vào, áo nâu sẫm ướt bùn, lưng còng xuống, tay chống cây gậy trúc cũ. Cụ đã ngoài bảy mươi, râu tóc bạc phơ, gò má hõm sâu, nhưng đôi mắt vẫn sáng và nghiêm. Cụ là người trông nom miếu Bà Trầm từ khi cha anh Lễ còn sống.
Có lẽ nghe tin ông phú đến nhà anh Lễ, cụ vội chạy qua, nên hơi thở còn gấp.
Cụ nhìn chiếc chuông trong tay Tư Móm, sắc mặt liền đổi.
“Đặt xuống.”
Tư Móm cười nhạt:
“Cụ già rồi thì về giữ sức đi. Việc nợ nần của ông phú, cụ chen vào làm gì?”
Cụ Từ Lại không nhìn hắn, chỉ nhìn ông phú Khương.
“Ông Khương, chiếc chuông ấy là chuông đồng của miếu Bà Trầm. Sau trận lũ năm ấy, dân làng góp đồng, góp tiền đúc lại để treo ở miếu. Nó không thuộc về nhà thằng Lễ. Không được đem làm vật cấn nợ.”
Ông phú Khương gõ nhẹ đầu batoong xuống sân.
“Cụ Từ, tôi kính cụ tuổi cao, nhưng cụ đừng lấy chuyện miếu mạo ra dọa tôi. Nợ nhà nó ghi trong sổ, có điểm chỉ. Cụ muốn chuông không bị lấy, thì cụ trả nợ thay nó đi.”
Cụ Từ Lại chống gậy, bước thêm một bước.
“Tiền nợ của người sống, ông cứ đòi theo luật người sống. Nhưng đồ thờ đã thuộc về miếu, không phải thứ để tay tham đặt lên. Chuông của Bà không kêu cho người sống nghe vui. Nó chỉ kêu khi có kẻ phạm vào đường âm.”
Gió ngoài sân bỗng thổi mạnh, làm lớp vải đỏ rơi xuống nền đất. Chiếc chuông đồng trong tay Tư Móm khẽ rung một cái rất nhẹ.
Không thành tiếng.
Nhưng anh Lễ nghe thấy.
Cụ Từ Lại cũng nghe thấy.
Tư Móm nuốt nước bọt, bàn tay cầm chuông hơi siết lại.
Ông phú Khương thì chỉ nhếch miệng.
“Đường âm, đường dương gì cũng phải trả nợ. Mang về.”
Anh Lễ lao tới níu lấy chuông. Tư Móm giật mạnh, Bảy Cọc phụ một tay đẩy anh ra. Anh Lễ ngã xuống nền sân, đầu va vào hòn đá bên chân cột, máu lập tức rịn ra nơi trán.
Bà Cả Hiền trong nhà gào lên một tiếng khàn đục:
“Lễ!”
Anh Lễ chống tay ngồi dậy, máu chảy xuống thái dương, nhưng vẫn bò tới, dập đầu trước ông phú.
“Ông phú, con xin ông. Đời cha con giữ chuông cho miếu, đến đời con lại để người ta đem đi cấn nợ. Sau này con chết biết nhìn mặt cha thế nào?”
Ông phú Khương xoay người.
“Thế thì sống mà kiếm tiền chuộc lại.”
Nói rồi ông phất tay.
Tư Móm ôm chuông đi ra. Bảy Cọc gom nồi sứt, chiếu rách, hũ thóc lép cùng mấy món lặt vặt buộc vào dây thừng. Ông phú Khương chống batoong bước trước, không quay đầu lại.
Cụ Từ Lại đứng giữa sân, nhìn theo chiếc chuông đồng bị mang đi, môi mấp máy như đọc một lời khấn rất nhỏ.
Anh Lễ quỳ dưới đất, hai tay bấu vào bùn.
Từ phía miếu Bà Trầm xa xa, gió thổi qua gốc thị già, làm mấy chiếc lá khô rơi lả tả xuống nền đất ướt.
Không có tiếng chuông nào vang lên nữa.
Nhưng cả xóm Bờ Lạch chiều ấy im lặng như có tang.
Đến tối, mưa lại rơi.
Mưa không lớn, chỉ lất phất từng màn mỏng như khói. Nhà ông phú Khương nằm ở đầu làng, cao ráo, tường gạch, cổng gỗ lim dày, mái ngói đỏ thẫm. So với những căn nhà xiêu vẹo ở xóm Bờ Lạch, nhà ông phú chẳng khác gì một cái kho bạc mọc giữa làng nghèo.
Sau khi về, ông sai người đặt chiếc chuông đồng vào gian nhà ngang, cạnh mấy món đồ xiết nợ trong ngày. Nồi sứt, chiếu rách, dao cùn đều bị ném một góc. Riêng chiếc chuông đồng được đặt lên cái bàn gỗ cũ, lớp vải đỏ phủ hờ bên cạnh.
Tư Móm đặt chuông xuống xong thì xoa tay.
“Lạ thật, cái chuông nhỏ mà nặng như đá.”
Bảy Cọc đang kiểm lại sổ nợ, liếc hắn.
“Sợ à?”
Tư Móm cười khẩy.
“Tao mà sợ cái chuông? Tao chỉ thấy tiếc, đem nấu ra chắc được khối đồng tốt.”
Ông phú Khương ngồi ở nhà chính, bên cạnh là khay trà và đĩa trầu. Ông vừa nhấp trà vừa nghe Bảy Cọc đọc lại mấy món nợ trong ngày. Cái tên Lễ được khoanh thêm một dấu mực đậm.
Một lúc sau, ngoài cổng có tiếng đàn bà khóc.
“Ông phú ơi… con lạy ông phú…”
Ông phú nhíu mày.
“Lại ai nữa?”
Gia nhân mở cổng. Một người đàn bà gầy gò, áo nâu sũng nước, tóc tai rối bết, quỳ sụp xuống sân. Đó là chị Bường ở xóm Cầu Rộc. Chồng chị bệnh nặng đã nửa tháng nay, nằm một chỗ, thầy lang bảo nếu không có thuốc ngay thì khó qua khỏi.
Chị bò bằng đầu gối vào gần thềm, hai tay chắp lại.
“Con xin ông phú cho con vay năm quan chạy thuốc cho nhà con. Con đội ơn ông suốt đời.”
Ông phú đặt chén trà xuống.
“Có gì thế chấp?”
Chị Bường run giọng:
“Nhà con còn cái nồi đồng với mảnh ruộng nhỏ ở Cầu Rộc. Ruộng tuy không lớn, nhưng sang mùa còn cấy được.”
Ông phú Khương nhìn Bảy Cọc.
Bảy Cọc lập tức mở sổ.
“Ruộng Cầu Rộc đất thấp, nhưng vẫn tính được. Nếu cho vay năm quan, lãi một tháng một quan. Trừ lãi trước, đưa bốn quan. Một tháng sau trả đủ sáu quan. Nếu chậm, xiết ruộng.”
Chị Bường ngẩng phắt đầu lên, mặt trắng bệch.
“Ông phú… con vay năm quan mà nhận có bốn quan sao?”
Ông phú Khương nhàn nhạt đáp:
“Không muốn thì về.”
Chị Bường quay đầu nhìn màn mưa ngoài sân. Bên kia là căn nhà tối om, nơi chồng chị đang thở từng hơi yếu dần. Chị cắn môi đến bật máu, rồi cúi đầu.
“Con… con xin nhận.”
Bảy Cọc đưa giấy nợ ra, chấm mực đỏ vào đầu ngón tay chị.
“Điểm chỉ.”
Chị Bường run rẩy ấn ngón tay xuống tờ giấy. Dấu tay đỏ hiện lên, loang nhẹ vì nước mưa trên tay chị.
Ông phú Khương đếm bốn quan tiền ném xuống trước mặt.
“Cầm lấy. Nhớ hạn.”
Chị Bường nhặt tiền, lạy ba lạy rồi đội mưa chạy ra ngoài. Bóng chị gầy như cái bóng lá chuối rách, chao đảo trong mưa tối.
Tư Móm đứng bên cột cười hềnh hệch.
“Đàn bà nghèo mà còn có ruộng, may cho chị ta gặp ông đấy.”
Ông phú Khương không đáp.
Ông nhìn vào sổ nợ, nét mặt bình thản như vừa làm một việc rất đúng phép.
Đêm ấy, nhà ông phú đóng cổng sớm.
Mưa vẫn rơi mỏng, nhưng gió từ phía lạch thổi vào lạnh hơn mọi khi. Đám chó trong sân không sủa, chỉ nằm rúc dưới mái hiên, thỉnh thoảng rên ư ử như bị ai giẫm lên đuôi trong mơ.
Gian nhà ngang tối hơn mọi ngày.
Ngọn đèn dầu treo trước cửa cứ cháy leo lét. Lửa không vàng, mà xanh xanh ở đầu bấc. Tư Móm được giao ngủ ngoài hiên để canh mấy món đồ xiết nợ. Hắn trải chiếu nằm gần cửa, gác cây gậy bên cạnh, miệng còn lẩm bẩm chửi cái lạnh.
Nửa đêm, hắn tỉnh giấc vì nghe tiếng nước.
Ọc… ọc…
Như có dòng nước chảy trong một cái chum kín.
Tư Móm mở mắt.
Âm thanh ấy phát ra từ gian nhà ngang.
Hắn ngồi dậy, nhìn vào trong. Trong bóng đèn dầu xanh lét, chiếc chuông đồng nằm im trên bàn. Lớp vải đỏ phủ hờ bên cạnh bị gió thổi động khe khẽ.
Ọc… ọc…
Tư Móm nhăn mặt.
“Nước ở đâu ra?”
Hắn đứng lên, cầm đèn bước vào. Nền nhà khô ráo. Mái không dột. Nhưng càng đến gần chiếc chuông, hắn càng nghe rõ tiếng nước chảy.
Không phải bên ngoài.
Mà như chảy trong lòng chuông.
Hắn đưa tay định chạm vào.
Bỗng chiếc chuông tự rung.
Boong.
Tiếng chuông không lớn. Chỉ một tiếng thôi. Nhưng âm thanh ấy trầm và sâu đến mức như rơi thẳng xuống đáy bụng người nghe.
Tư Móm hét lên, làm rơi cây đèn.
“Có ma!”
Cả nhà ông phú lập tức náo động.
Gia nhân chạy tới, người cầm gậy, người cầm đèn. Ông phú Khương khoác áo bước ra từ nhà chính, mặt đỏ bừng vì bị đánh thức.
“Chuyện gì?”
Tư Móm chỉ vào chiếc chuông, môi run bần bật.
“Nó… nó tự kêu…”
Ông phú Khương quát:
“Đồ vô dụng! Gió thổi thì chuông kêu, có gì mà la?”
Bảy Cọc cầm đèn đi quanh bàn, nhìn kỹ chiếc chuông. Chuông vẫn nằm nguyên chỗ cũ. Không ai chạm vào. Cửa sổ đóng kín. Mấy món đồ xiết nợ trong góc cũng không xê dịch.
Ông phú cau mày.
“Có đứa nào lẻn vào không?”
Gia nhân lục soát khắp gian nhà ngang. Không có ai.
Cổng ngoài vẫn khóa.
Tường cao, then cài chắc chắn.
Tư Móm lau mồ hôi lạnh trên trán.
“Con thề là nó tự kêu. Con còn nghe tiếng nước trong bụng chuông.”
Ông phú Khương trừng mắt.
“Uống rượu trộm rồi mê sảng chứ gì?”
Tư Móm vội quỳ xuống.
“Con không dám!”
Đúng lúc đó, chiếc chuông lại rung.
Boong.
Lần này, tất cả mọi người đều nghe thấy.
Không ai chạm vào nó.
Không có gió.
Không có tay người.
Vậy mà tiếng chuông vẫn vang lên, chậm rãi, lạnh lẽo, lan khắp gian nhà ngang rồi bò qua từng bức vách như hơi nước.
Một con chó trong sân tru lên một tiếng, rồi cụp đuôi chui vào gầm chạn.
Bảy Cọc mặt trắng bệch. Hắn ôm sổ nợ vào ngực, lùi lại hai bước.
Ông phú Khương đứng im một lát, rồi cười gằn.
“Có kẻ giở trò.”
Ông quay sang gia nhân.
“Mở kho. Kiểm rương bạc.”
Bảy Cọc lập tức chạy vào phòng trong. Một lát sau, hắn hớt hải quay ra, tay cầm mấy đồng tiền.
“Ông… ông phú…”
Ông phú Khương quắc mắt.
“Lại gì?”
Bảy Cọc chìa tay ra.
Mấy đồng tiền trong lòng bàn tay hắn ướt nhẹp.
Không phải ướt nước mưa.
Mà là thứ nước đục ngầu, dính bùn, bốc lên mùi tanh của lạch Cầu Đục. Bùn bám kín quanh lỗ vuông giữa đồng tiền, như vừa được vớt từ đáy sông lên.
Ông phú giật lấy một đồng, đưa lên mũi ngửi, sắc mặt lập tức sa sầm.
“Ai động vào rương?”
“Dạ không ai cả.” Bảy Cọc lắp bắp. “Rương vẫn khóa. Chìa khóa ông giữ.”
Ông phú Khương siết chặt đồng tiền trong tay.
“Đem sổ nợ ra đây.”
Bảy Cọc run rẩy mở sổ trên bàn. Những trang giấy vẫn khô, nhưng đến trang ghi nợ của anh Lễ, góc giấy đã ướt một mảng. Vết nước loang ra chậm chậm, rồi hiện thành một dấu tay.
Dấu tay ấy không phải mực.
Nó là nước bùn.
Năm ngón tay dài, gầy, in đè lên cái tên “Lễ con bà Cả Hiền”, như có ai vừa từ dưới lạch bước lên, đặt tay vào sổ.
Tư Móm sợ quá lùi sát vào vách.
“Ông… dấu tay…”
Ông phú Khương giật lấy tờ sổ, dùng tay áo chùi mạnh. Vết bùn không mất. Càng chùi, nó càng loang rộng, sẫm lại như máu cũ pha đất.
Ông nghiến răng.
“Có người vào nhà phá. Nhất định có kẻ vào nhà phá.”
Không ai dám nói.
Bên ngoài, mưa lất phất rơi trên sân gạch. Tiếng mưa rất nhỏ, vậy mà trong gian nhà ngang, ai cũng nghe như có tiếng nước lạch vỗ vào chân tường.
Ọc… ọc…
Ọc… ọc…
Chiếc chuông đồng nằm trên bàn.
Miệng chuông tối om.
Lớp vải đỏ bên cạnh ướt dần, dù không hề có giọt nước nào rơi xuống.
Ông phú Khương cầm batoong bước tới, giơ đầu gậy chỉ vào chiếc chuông.
“Mai tao cho người đem mày bán đồng. Để xem còn kêu được không.”
Vừa dứt lời, tiếng chuông thứ ba vang lên.
Boong.
Rất khẽ thôi.
Nhưng đủ khiến ngọn đèn dầu trong gian nhà ngang phụt tắt.
Bóng tối đổ ập xuống.
Đám gia nhân hét lên. Bảy Cọc đánh rơi sổ nợ. Tư Móm ngã ngồi xuống nền đất, hai tay bịt tai.
Ông phú Khương đứng giữa bóng tối, bàn tay cầm batoong cứng lại.
Bên ngoài sân, trong màn mưa mỏng, có một bóng người già chống gậy đứng cúi đầu trước cổng.
Dáng người ấy gầy và còng.
Đầu bạc rũ xuống.
Một tay chống gậy.
Một tay buông thõng, nước bùn nhỏ từng giọt xuống nền sân.
Mà cánh cổng nhà ông phú Khương rõ ràng đã khóa từ bên trong.