Đừng Huýt Sáo Vào Ban Đêm
Đừng Huýt Sáo Vào Ban Đêm · 📖

Đêm Đừng Huýt Sáo

Chương 1 chương Hoàn thành

Người làng Bến Lau từ xưa vẫn có một lời dặn rất lạ.

Đêm xuống thì đừng huýt sáo.

Nhất là sau canh ba.

Người già trong làng bảo, ban ngày tiếng huýt sáo nghe vui tai, nhưng ban đêm nó lại giống một thứ tiếng gọi. Gọi bạn bè thì ít, gọi những thứ lang thang ngoài đồng, ngoài bãi tha ma, dưới bến sông thì nhiều.

Ai huýt một tiếng, nếu không có gì đáp lại thì thôi.

Nhưng nếu trong gió có tiếng huýt sáo khác vọng về, nhất định đừng huýt thêm lần nữa.

Còn nếu đã lỡ đáp đủ ba lần, thì từ lúc ấy, người âm đã nhận ra hơi người sống. Họ có thể theo tiếng mà bám về. Nhẹ thì ốm liệt giường vài hôm, mê sảng gọi tên người lạ. Nặng thì mất hồn, mắt mở trừng trừng mà chẳng còn biết ai với ai.

Người làng kể rằng, đoạn dễ gặp nhất là con đường đất từ bãi mả Cồn Lau về Kho Bến Cũ.

Đó là một con đường hẹp, một bên là ruộng thấp, một bên là đám lau sậy mọc trắng xóa ven con lạch cũ. Mùa nắng thì đất nứt chân chim, mùa mưa thì bùn ngập quá mắt cá. Ban ngày còn có người qua lại, chứ đêm xuống, chẳng ai muốn đi một mình.

Bãi mả Cồn Lau nằm khuất sau rặng tre già cuối làng. Nhiều ngôi mộ đất thấp tè, không bia, không tên, chỉ cắm vài thanh tre mục. Cỏ lau mọc cao ngang ngực người lớn, mỗi khi gió sông thổi qua lại xào xạc như có ai đứng trong đó thì thầm.

Còn Kho Bến Cũ thì nằm gần khúc bến bỏ hoang.

Ngày trước, nơi ấy từng tấp nập ghe thuyền chở gạo, mắm, tương, hàng khô đi các làng ven sông. Về sau bến lở, thuyền ít ghé, kho cũng cũ dần. Nhưng ông Tưởng, chủ kho, vẫn giữ lại để chứa hàng. Người ngoài nhìn vào chỉ thấy một căn nhà kho mái tôn rỉ sét, tường vôi bong tróc, cửa sắt nặng nề.

Nhưng người làng Bến Lau biết, sau cánh cửa ấy có nhiều chuyện không nên hỏi.

Nhất là sau canh ba.

Mùa hè năm ấy, Minh về quê ngoại.

Minh tên đầy đủ là Trần Duy Minh, hai mươi hai tuổi, sinh viên năm cuối trên thành phố. Cậu ở phố đã quen đèn đường, xe máy, quán xá mở đến nửa đêm, nên về Bến Lau được hai ngày đã thấy buồn chân buồn tay.

Nhà bà ngoại Minh nằm ở xóm Trên, gần bờ tre già dẫn ra cánh đồng. Bà ngoại cậu tên là Năm Sương, ngoài bảy mươi, lưng đã còng nhưng mắt vẫn tinh. Bà sống một mình, trồng mấy luống rau, nuôi vài con gà, quanh năm quanh quẩn với bếp rơm và bàn thờ nhỏ ở gian giữa.

Chiều hôm ấy, Minh theo Lệ và mấy đứa bạn cũ ra đồng bắt cua.

Lệ là bạn thuở nhỏ của Minh, hơn kém cậu không nhiều. Ngày bé hai đứa từng thả diều ở bãi sông, nhưng từ khi Minh lên thành phố học, cũng mấy năm mới gặp lại. Lệ vẫn ở làng, phụ mẹ bán hàng ngoài chợ, tính nhanh nhẹn nhưng đặc biệt rất tin lời kiêng của người già.

Cả bọn lội bùn ngoài ruộng đến khi mặt trời tụt xuống sau rặng tre mới kéo nhau về. Giỏ cua chẳng được bao nhiêu, người thì lấm lem bùn đất, nhưng đứa nào cũng cười nói ồn ào.

Con đường đất từ đồng về làng lúc ấy đã tối hẳn một nửa. Trăng non treo lửng trên đám mây mỏng, sáng mờ mờ như ánh đèn dầu sắp cạn. Từ phía Cồn Lau, gió thổi qua bãi lau trắng, nghe xào xạc kéo dài. Mấy bụi tre hai bên đường kêu cót két, lâu lâu lại có tiếng cành khô cọ vào nhau rin rít.

Minh đi sau cùng, tay xách giỏ cua, miệng huýt sáo một đoạn nhạc cậu hay nghe trên điện thoại.

Tiếng huýt vang lên lanh lảnh giữa con đường vắng.

Ngay lập tức, Lệ khựng lại.

Mấy đứa bạn đi phía trước cũng đứng im.

Một thằng tên Vũ quay phắt lại, mặt tái đi:

“Ê, mày làm cái gì đấy?”

Minh ngừng huýt, nhướng mày:

“Làm gì là làm gì?”

Lệ bước nhanh đến, giật nhẹ tay áo Minh:

“Đừng huýt sáo. Tối rồi.”

Minh bật cười:

“Trời, có mỗi tiếng huýt sáo cũng sợ? Bọn mày ở quê lâu nên cái gì cũng kiêng à?”

Vũ nhìn về phía bãi lau, giọng hạ thấp:

“Không phải đùa đâu. Đường này gần Cồn Lau. Tối rồi đừng huýt.”

Một đứa khác cũng lí nhí:

“Nhất là hôm nay gió dưới bến thổi lên. Người già bảo đêm có gió ngược mà huýt sáo là dễ gọi thứ trong mả lắm.”

Minh nghe xong càng buồn cười.

Cậu lớn lên mấy năm trên thành phố, học hành tử tế, lại vốn không tin chuyện ma quỷ. Những chuyện người làng kể, theo cậu, chẳng qua là do đêm tối, gió lùa, trí tưởng tượng của người ta tự thêu dệt.

Minh chống nạnh, cố ý huýt thêm hai tiếng.

Lần này dài hơn.

Tiếng huýt bay qua con đường đất, vút lên, rồi chìm vào đám lau sậy bên kia.

Cả đám bạn im bặt.

Gió bỗng lặng đi một nhịp.

Côn trùng trong bụi cỏ cũng như ngừng kêu.

Minh vừa định trêu thêm thì từ phía xa, hình như ở bên bãi lau sau những ngôi mộ cũ, có một tiếng gì đó vọng lại.

Rất khẽ.

Ngắn.

Lạnh.

Giống tiếng ai đó cố huýt lại nhưng hụt hơi.

Lệ biến sắc, kéo mạnh tay Minh:

“Về!”

Minh chưa kịp phản ứng thì cả đám đã chạy thục mạng về phía làng. Cậu bị kéo theo, vừa chạy vừa ngoái lại nhìn con đường sau lưng.

Bãi lau vẫn trắng mờ trong ánh trăng. Không có ai.

Chỉ có gió từ dưới bến thổi qua, làm những ngọn lau nghiêng rạp xuống như có một bàn tay vô hình vừa vuốt qua.

Về đến nhà, Minh vẫn còn cười.

Cậu vừa đặt giỏ cua xuống sân, vừa nói:

“Đúng là bọn mày nhát quá. Gió thổi qua lau cũng tưởng ma.”

Lệ trừng mắt:

“Cười đi. Tối nay mà nghe tiếng gì ngoài cửa thì đừng gọi tao.”

Nói rồi cô quay về nhà.

Minh phủi bùn trên chân, đang định vào bếp rửa tay thì bà ngoại Năm Sương từ gian giữa bước ra. Bà đứng dưới bóng đèn vàng cũ, tay còn cầm mớ trầu vừa têm dở.

Bà nhìn Minh rất lâu.

Rồi hỏi:

“Ban nãy cháu huýt sáo ngoài đường phải không?”

Minh khựng lại.

“Ơ… sao ngoại biết?”

Bà Năm Sương không đáp ngay. Bà đưa mắt nhìn ra ngoài ngõ, nơi con đường đất tối mờ kéo về phía đồng.

Một lúc sau, bà mới nói:

“Ở Bến Lau, đêm xuống thì đừng huýt sáo. Bà dặn từ hồi cháu còn nhỏ, quên rồi à?”

Minh cười xòa:

“Ngoại cũng tin mấy chuyện đó nữa hả? Cháu chỉ huýt chơi thôi mà.”

Bà đặt mớ trầu lên bàn, giọng chậm nhưng nặng:

“Người sống huýt sáo để vui miệng. Người chết huýt lại là để tìm đường bám theo.”

Minh hơi rùng mình, nhưng vẫn cố cười:

“Ngoại nói cứ như phim ma.”

Bà ngoại nhìn cậu, vẻ mặt không hề có ý đùa.

“Phim ma người ta còn tắt đi được. Có chuyện gặp rồi, muốn quên cũng không quên nổi đâu.”

Minh không nói gì nữa.

Bà Năm Sương bước vào gian giữa, mở cái hộp gỗ nhỏ trên bàn thờ. Bên trong có vài đồng tiền cũ, mấy sợi chỉ đỏ, một nhúm tro nhang được gói trong vải nâu.

Bà lấy ra một túi vải nhỏ, buộc miệng bằng chỉ đỏ, đưa cho Minh.

“Cầm lấy.”

Minh nhíu mày:

“Gì đây ngoại?”

“Tro nhang ở miếu làng. Không phải bùa chú gì lớn lao. Cầm cho yên vía.”

“Con có đi đánh nhau đâu mà cần yên vía.”

Bà Năm Sương gắt khẽ:

“Bà bảo thì cứ cầm.”

Minh đành nhận, nhét vào túi quần cho bà yên lòng.

Bà vẫn chưa thôi dặn:

“Nếu nghe tiếng huýt sáo sau lưng thì đừng quay đầu. Nếu sau ba giờ sáng có ai gọi tên cháu thì đừng đáp. Còn nếu thấy chỗ nào thờ mà không cắm nhang, chỉ cắm bùa, thì đừng động vào một mình.”

Minh nghe vậy càng thấy lạ:

“Ngoại nói gì ghê vậy? Tối nay con chỉ ở nhà ngủ thôi mà.”

Bà nhìn cậu:

“Không phải cháu định nhận ca đêm ở Kho Bến Cũ à?”

Minh ngẩn ra.

Việc ấy cậu mới nghe ông Tưởng nói qua hồi chiều, còn chưa kịp kể với bà. Kho Bến Cũ đang thiếu người trông đêm mấy ngày, ông Tưởng bảo công việc nhẹ, chỉ ngồi canh kho, mỗi đêm trả tiền công khá. Minh đang muốn kiếm chút tiền tiêu vặt nên định nhận.

Cậu gãi đầu:

“À… ông Tưởng có rủ. Nhưng chắc không sao đâu ngoại. Kho hàng thôi mà.”

Sắc mặt bà Năm Sương tối lại.

“Kho ấy gần Cồn Lau.”

“Thì sao ạ?”

“Trước kia có người chết trong đó.”

Minh im một thoáng.

Rồi cậu thở ra:

“Tai nạn lao động thì ở đâu chẳng có. Ngoại đừng lo quá.”

Bà Năm Sương khép mắt, như biết có nói thêm cậu cũng chẳng nghe. Một lúc sau, bà chỉ dặn:

“Làm gì thì làm, đêm trong kho đừng huýt sáo.”

Minh nhún vai:

“Chỉ là tiếng huýt sáo thôi mà, làm gì đến mức gọi ma được.”

Bà ngoại không đáp.

Nhưng ánh mắt bà nhìn cậu khi ấy, sau này Minh nhớ lại vẫn thấy lạnh.

Sáng hôm sau, Minh đến Kho Bến Cũ nhận việc.

Kho nằm cách chợ làng không xa, đi qua một con đường đất dẫn xuống bến sông cũ. Ban ngày, chỗ ấy không đến nỗi đáng sợ. Trước cửa kho có mấy chiếc xe ba gác, vài bao gạo vừa được dỡ xuống, mùi mắm và mùi hàng khô lẫn trong nắng. Mái tôn đỏ gỉ, tường vôi bong từng mảng. Cửa sắt kéo lên phát ra tiếng ken két nghe rất chói tai.

Ông Tưởng đứng ở cửa kho chờ Minh.

Ông ta ngoài năm mươi, dáng người đậm, tóc chải gọn, áo sơ mi bỏ trong quần rất chỉnh tề. Gặp ai ông cũng cười, nhưng mắt lại ít khi cười theo. Đôi mắt ấy hẹp, đen và sâu, nhìn người khác lâu hơn mức cần thiết, như thể đang cân nhắc xem người trước mặt đáng giá bao nhiêu.

“Minh đấy hả? Cháu bà Năm Sương?”

“Dạ.”

Ông Tưởng vỗ vai cậu:

“Thanh niên thành phố mà chịu khó làm đêm là tốt. Công việc chẳng có gì. Từ chín giờ tối đến năm giờ sáng. Ngồi coi kho, ghi xe ra vào, đừng cho ai lạ vào lấy hàng. Hết ca chú trả tiền ngay.”

Minh gật đầu.

Ông Tưởng dẫn cậu đi quanh kho.

Bên trong rộng hơn Minh tưởng. Hai bên là những dãy bao gạo chất cao gần đến mái. Giữa kho có lối đi hẹp. Phía trong nữa là thùng mắm, chum tương, các kiện hàng khô buộc dây nilon, vài thùng mì, bao muối. Mùi gạo ẩm, mùi mắm, mùi bao tải cũ trộn lại thành một thứ mùi nặng, bám vào cổ họng.

Đèn tuýp trên trần sáng trắng nhợt, thỉnh thoảng rè rè rồi chớp một cái.

Ông Tưởng chỉ căn phòng nhỏ sát tường:

“Phòng nghỉ nhân viên. Buồn ngủ thì ngả lưng một chút, nhưng đừng ngủ sâu.”

Minh cười:

“Dạ, cháu thức đêm quen rồi.”

Ông Tưởng không cười theo.

Ông chỉ tiếp về cuối kho:

“Cửa sau khóa rồi. Đêm đừng mở.”

“Có hàng gì phía sau hả chú?”

“Không. Sau đó là bãi lau với mấy cái mộ cũ. Mở ra gió lùa, chuột rắn vào kho.”

Ông nói rất bình thường, nhưng giọng hơi chậm.

Minh nhớ đến lời bà ngoại, tự nhiên thấy sau gáy hơi lạnh.

Đi đến gần góc sâu nhất của kho, ông Tưởng bỗng dừng lại. Ở đó có mấy kệ hàng cũ xếp chồng lên nhau. Sau kệ lộ ra một góc bàn gỗ nhỏ. Trên bàn đặt một bát hương, hai cây nhang tàn và một lá bùa vàng đã sậm màu.

Minh vừa định hỏi thì ông Tưởng đã quay đi.

“Chỗ đó cũ rồi, đừng động vào.”

Minh liếc qua lá bùa.

Trên đó có vài nét chữ đỏ đã nhòe, nhưng cậu vẫn đọc được một cái tên:

Lưu Văn Mến.

Dưới tên là một ngày tháng cũ, mực loang không nhìn rõ.

Minh hỏi:

“Chú, bàn thờ ai vậy?”

Mặt ông Tưởng hơi khựng lại.

Chỉ rất nhanh.

Rồi ông cười:

“Người làm cũ. Chết lâu rồi. Thắp cho có lệ thôi.”

“Dạ.”

Ông Tưởng nhìn Minh một lúc, rồi nói nhỏ hơn:

“Đêm ở đây có mấy điều phải nhớ.”

Minh quay sang.

Ông Tưởng giơ từng ngón tay:

“Một, nghe tiếng sột soạt trong kho thì cứ mặc. Chuột hoặc bao hàng giãn thôi. Đừng đi soi từng góc.”

“Hai, không mở cửa kho sau.”

“Ba, sau ba giờ sáng, đừng vào phòng nghỉ ngủ.”

“Bốn…”

Ông dừng lại.

Minh hỏi:

“Bốn gì chú?”

Ông Tưởng nhìn thẳng vào mắt cậu:

“Không huýt sáo trong kho.”

Minh suýt bật cười.

“Kho hàng cũng kiêng huýt sáo hả chú?”

Ông Tưởng vẫn nhìn cậu, khóe miệng nhếch lên một chút.

“Có những thứ trong kho không phải để kiểm tra. Cậu cứ nhớ làm đúng lời tôi dặn là sống yên.”

Câu ấy khiến nụ cười của Minh khựng lại.

Nhưng cậu vẫn nghĩ, chắc ông Tưởng biết mình là cháu bà Năm Sương nên hùa theo chuyện kiêng kỵ trong làng để dọa.

Đêm hôm đó, Minh bắt đầu ca trực đầu tiên.

Chín giờ, ông Tưởng bàn giao chìa khóa rồi đi về. Trước khi đi, ông còn quay lại nhìn kho một lượt, ánh mắt dừng ở góc bàn thờ sau kệ hàng hơi lâu.

“Có gì thì gọi chú. Nhưng mất sóng thì sáng mai báo cũng được.”

Minh ngạc nhiên:

“Ở đây hay mất sóng hả chú?”

Ông Tưởng chỉ cười, không đáp.

Cửa kho đóng lại.

Tiếng cửa sắt ken két kéo xuống làm không gian trong kho như bị cắt khỏi bên ngoài.

Ban đầu, Minh thấy mọi thứ vẫn bình thường.

Cậu ngồi ở bàn trực gần cửa, mở điện thoại xem tin nhắn. Sóng yếu thật, lúc có lúc không. Ngoài sân, đèn vàng treo trên cột điện chập chờn, soi xuống khoảng đất trống trước kho. Xa hơn nữa là con đường đất dẫn về làng, tối mờ, không có người qua lại.

Kho càng về khuya càng lạnh.

Không phải cái lạnh của gió đêm. Cửa đóng kín, quạt cũng không bật, vậy mà hơi lạnh cứ lẩn quẩn dưới chân. Mùi gạo ẩm trong kho nồng hơn. Mấy bóng đèn tuýp lâu lâu lại rè lên một tiếng, rồi ánh sáng hơi nhòe đi.

Khoảng gần mười hai giờ, Minh nghe tiếng động đầu tiên.

Rắc.

Rất nhỏ.

Như tiếng bao tải bị kéo căng.

Cậu ngẩng đầu nhìn vào trong.

Những dãy bao gạo đứng im lìm dưới ánh đèn trắng.

Rắc.

Lần này rõ hơn.

Minh cầm đèn pin đi vào lối giữa. Ánh đèn lia qua những bao gạo, thùng hàng, dây buộc, mấy cái thang gỗ cũ dựng bên tường. Không thấy gì.

“Chuột à?”

Cậu lẩm bẩm.

Tiếng động tắt.

Khi quay lại bàn trực, Minh chợt nhìn về góc bàn thờ.

Không hiểu vì sao, lá bùa vàng trên bát hương như vừa rung nhẹ.

Cậu đứng im nhìn.

Không có gió.

Những cây nhang tàn cũng không lay.

Minh chép miệng:

“Đèn chớp nên nhìn nhầm thôi.”

Cậu trở lại bàn trực.

Thời gian trôi rất chậm.

Một giờ.

Hai giờ.

Minh bắt đầu buồn ngủ.

Cậu rửa mặt bằng chai nước suối mang theo, nhai kẹo cao su, mở điện thoại định nghe nhạc nhưng sóng không có, nhạc lưu trong máy lại ít. Kho im quá. Im đến mức cậu nghe rõ tiếng tim mình đập mỗi khi đèn tuýp rè lên.

Gần ba giờ sáng, Minh ngồi tựa lưng vào ghế, mắt díp lại.

Không biết nghĩ gì, cậu vô thức huýt sáo.

Một đoạn nhạc ngắn.

Tiếng huýt sáo vang lên trong kho, lướt qua những dãy bao gạo, chạm vào tường tôn rồi tắt.

Ngay khi âm cuối vừa dứt, Minh mở mắt.

Cậu nhớ đến lời bà ngoại.

Nhớ đến lời ông Tưởng.

“Không huýt sáo trong kho.”

Minh ngồi thẳng dậy, tự cười mình.

“Vớ vẩn.”

Nhưng nụ cười chưa kịp trọn, từ sâu trong kho, sau dãy bao gạo cuối cùng, có một tiếng huýt sáo đáp lại.

Cùng một đoạn nhạc.

Ngắn.

Hụt hơi.

Lạnh đến mức da tay Minh nổi gai.

Cậu đứng bật dậy.

“Ai đó?”

Không ai trả lời.

Minh cầm đèn pin soi vào trong. Ánh sáng quét qua những bao gạo chất cao, qua thùng mắm, qua kệ hàng cũ, qua góc bàn thờ lấp ló sau bóng tối.

Không có ai.

Cậu nuốt nước bọt.

“Chắc gió…”

Nhưng cửa kho đóng kín.

Minh thấy mình hơi tức vì sợ. Từ nhỏ đến lớn cậu ghét nhất cảm giác bị mấy chuyện mê tín làm cho dao động. Cậu hít một hơi, cố cười khẩy, rồi huýt lại lần thứ hai.

Lần này tiếng huýt sáo của cậu nhỏ hơn.

Nó vừa dứt, từ phía cửa kho sau vang lên tiếng đáp.

Gần hơn.

Cùng một đoạn.

Nhưng âm cuối kéo dài, như có ai mím môi quá lâu đến hụt hơi.

Minh cứng người.

Đèn kho chớp một cái.

Cửa kho sau nằm ở cuối lối đi, chỗ ông Tưởng đã dặn không được mở. Trên cánh cửa có một thanh then sắt lớn. Phía ngoài là bãi lau và mấy ngôi mộ cũ.

Minh nghe rõ tiếng gì đó cào nhẹ lên mặt trong cánh cửa.

Cạch.

Cạch.

Rồi im.

Cậu cầm đèn pin, bước rất chậm về phía đó.

Một bước.

Hai bước.

Ba bước.

Càng đi sâu vào kho, mùi ẩm mốc càng nặng. Bên tai cậu hình như có tiếng thở, nhưng mỗi lần dừng lại nghe thì chỉ còn tiếng đèn tuýp rè rè.

Minh dừng cách cửa sau chừng năm bước.

Bất chợt, tiếng huýt sáo vang lên lần thứ ba.

Không phải từ cánh cửa trước mặt.

Không phải từ dãy bao gạo.

Mà ở ngay sau lưng cậu.

Gần đến mức như có ai đang mím môi sát bên tai.

Một luồng hơi lạnh phả thẳng vào gáy Minh.

Toàn thân cậu đông cứng.

Đèn pin trong tay run lên, quầng sáng nhảy loạn trên nền xi măng.

Trong đầu cậu vang lên giọng bà ngoại Năm Sương:

“Nếu nghe tiếng huýt sáo sau lưng thì đừng quay đầu.”

Minh đứng chết lặng giữa kho.

Phía sau, tiếng huýt sáo khe khẽ vẫn còn ngân.

Gần hơn.

Sát hơn.

Như thứ đang đứng sau lưng cậu chỉ chờ cậu quay đầu lại.

· · ·
Mục lục Chương tiếp →
Trợ lý AI
Trợ lý AI
Tư vấn truyện · Luôn sẵn sàng
👋 Xin chào! Mình là trợ lý AI của LinkTruyen.

Mình có thể giúp bạn:
  • Gợi ý truyện phù hợp
  • Giải thích các thể loại
  • Hướng dẫn sử dụng web
Bạn muốn đọc truyện thể loại gì? 😊